TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 151/2025/HNGĐ-ST Ngày 14/4/2025 V/v T/c Hôn nhân và gia đình. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Sơn
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Thành, Bà Nguyễn Thị Quế Anh
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án thụ lý số 44/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2025 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Trình Văn T, sinh năm 1990.
- Địa chỉ: N, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt. Có đơn xin xử vắng mặt.
- - Bị đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1996.
- Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm H, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Hiện đang làm việc tại: Pháp. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai, anh Trình Văn T1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ngày 19/10/2015, anh và chị Nguyễn Thị N tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Cuộc sống chỉ hạnh phúc được năm đầu. Sau một thời gian, vợ chồng xuất hiện nhiều mâu thuẫn, hai vợ chồng không chia sẻ, lo lắng cho nhau, không hỏi han, quan tâm nhau. Mặc dù đã cố hàn gắn nhưng cả hai không thể tìm được tiếng nói chung, tình cảm ngày càng phai nhạt.
Đầu năm 2020, chị N đi xuất khẩu lao động ở nước Pháp. Từ đó đến nay ngày càng xa mặt cách lòng, không còn hạnh phúc, cuộc sống hôn nhân rơi vào tình trạng bế tắc, không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, anh làm đơn này kính mong Quý Tòa xem xét giải quyết cho anh T được ly hôn với chị Nguyễn Thị N.
Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung là cháu Trình Đức A, sinh ngày: 27/04/2016. Hiện nay chị N đang ở nước ngoài và từ nhỏ đến nay con luôn ở với anh. Cho nên anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con cho đến khi trưởng thành (18 tuổi) và không yêu cầu chị N cấp dưỡng.
Về tài sản vợ nợ chung của vợ chồng: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía chị Nguyễn Thị N: Sau khi thụ lý vụ án Toà án đã gửi các văn bản tố tụng; Thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu chị Nguyễn Thị N có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án...cho chị Nguyễn Thị N thông qua anh Nguyễn Văn S là em trai của chị Nguyễn Thị N; thực hiện thủ tục niêm yết công khai các văn bản trên theo quy định của pháp luật, nhưng hiện chị Nguyễn Thị N vẫn vắng mặt và cũng không có lý do. Theo trình bày của anh S thì chị N hiện đang đi làm ăn ở Pháp, có liên lạc về cho gia đình bằng mạng xã hội nhưng không nói địa chỉ hiện tại của chị N ở đâu và chị N cũng biết việc anh T làm đơn ly hôn tại Tòa án, chị N cũng đồng ý ly hôn.
Theo kết quả trả lời xác minh tại Công văn số 540/QLXNC-Đ1 ngày 24/02/2025 của phòng xuất nhập cảnh – Công an tỉnh N: Chị Nguyễn Thị N có thông tin xuất nhập cảnh ngày 01/02/2020, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định, đảm bảo quyền, nghĩa vụ của đường sự. Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung đơn khởi kiện của anh Trình Văn T, cho anh T được ly hôn với chị Nguyễn Thị N; giao con chung của vợ chồng cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành; dành quyền khởi kiện về cấp dưỡng, chia tài sản cho các đương sự khi có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Thẩm quyền giải quyết: Vụ án hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là chị Nguyễn Thị N có địa chỉ trước khi đi nước ngoài tại xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; chị N hiện đang sinh sống tại Pháp. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị N vắng mặt, Tòa án đã thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ đối với chị N thông qua người thân là em trai của chị N tên là Nguyễn Văn S. Anh S cho biết chị N đang đi xuất khẩu lao động tại Pháp, nhưng chị N không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài cung cấp cho anh S nên anh S không có địa chỉ của chị N cung cấp cho Tòa án. Nhưng anh S thông báo cho chị N biết việc anh T làm đơn ly hôn tại Tòa án thì chị N cũng đồng ý ly hôn. Kết quả xác minh tại Phòng Q – Công an tỉnh N, chị Nguyễn Thị N có thông tin xuất nhập cảnh ngày 01/02/2020, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Căn cứ khoản 1 Điều 207, khoản 1 khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.
[3]. Về nội dung:
[3.1.]. Quan hệ hôn nhân: Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, nhận thấy, anh Trình Văn T và chị Nguyễn Thị Ngọc kết H tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ cuộc sống, khi chị N đang ở nước ngoài, nhưng không được hàn gắn, giải quyết. Đến nay chị N không quan tâm đến gia đình, không chăm lo làm ăn kinh tế, không gửi tiền về chăm sóc gia đình. Hai vợ chồng không còn cùng hướng đến xây dựng hạnh phúc. Khi biết anh T xin ly hôn tại Tòa án, chị N cũng đã đồng ý. Xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa anh Trình Văn T và chị Nguyễn Thị N không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Trình Văn T. Căn cứ khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho anh Trình Văn T được ly hôn với chị Nguyễn Thị N.
[3.2.] Về con chung: Anh T và chị N có con chung là cháu Trình Đức A, hiện cháu đang ở với anh T. Chị N đang ở nước ngoài chưa có điều kiện để trực tiếp chăm sóc con chung, nên cần giao cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con, anh T và chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.
[3.3] Tài sản chung, nợ: Anh Trình Văn T chưa yêu cầu giải quyết và chị Nguyễn Thị N cũng chưa có ý kiến gì nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
[4]. Về án phí: Anh Trình Văn T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 469 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 58, 81, 82, 83, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trình Văn T.
- Quan hệ hôn nhân: Anh Trình Văn T được ly hôn với chị Nguyễn Văn N1.
- Con chung: Giao con chung là cháu Trình Đức A, sinh ngày 27/04/2016 cho anh Trình Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi trưởng thành. Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Cấp dưỡng nuôi con chung: Các đương sự chưa có ý kiến nên Tòa án không xem xét. Đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng theo quy định.
- Án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc anh Trần Văn T2 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng đã nộp tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số [...] ngày 24/01/2025.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau:
- Anh Trình Văn T vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
- Chị Nguyễn Thị N đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Sơn |
Bản án số 151/2025/HNGĐ-ST ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 151/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trình Văn T - Nguyễn Thị N - Ly hôn
