Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 151/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 06-6-2025

V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Đình Đạt

Ông Đặng Ngọc Long

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 118/2025/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2025 về việc “Ly hôn”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2025/QĐ-ST ngày 26/5/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị L, sinh ngày 20/10/1983 (vắng mặt)

    Nơi cư trú: tổ dân phố A, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam (Hiện đang lao động ở nước ngoài).

    Chị L ủy quyền cho anh Hoàng Văn H, sinh năm 1989; Nơi cư trú: tổ dân phố Y, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang giao nhận tài liệu với Tòa án (không triệu tập).

  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân Đ, sinh ngày 04/8/1979 (vắng mặt)

    Nơi cư trú: 46 ngõ D B, phường B, quận H, thành phố Hà Nội.

    Hiện đang tạm trú tại: tổ dân phố Đ, phường B, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Lê Thị L trình bày:

Về hôn nhân: Trước khi kết hôn chị và anh Đ được tự do tìm hiểu được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương, có đăng ký kết hôn ngày 23/5/2006 tại Ủy ban nhân dân phường B, quận H, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn chị về nhà anh Đ làm dâu và chung sống hòa thuận. C sống hạnh phúc đến năm 2009 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng nên chị chuyển về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Kể từ thời điểm đó đến nay vợ chồng ít khi liên lạc với nhau, có liên lạc cũng chỉ hỏi thăm tình hình sức khỏe và học tập của con. Năm 2019 do điều kiện kinh tế khó khăn nên chị đi lao động tại Nhật Bản. Việc chị đi lao động tại Nhật Bản chị không bàn bạc hay thông báo cho anh Đ biết. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian thuẫn vợ chồng nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống để chăm sóc con nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ nhưng chị xác định không còn tình cảm nên không về đoàn tụ được. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Xuân Đ

Về con chung: chị, anh Đ có 01 con chung là cháu Nguyễn Xuân T, sinh ngày 17/6/2006. Hiện nay cháu T đã trên 18 tuổi, không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra chị L trình bày: Do bận công việc nên chị đề nghị được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, vắng mặt tại tất cả phiên tòa xét xử do Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở ra, vắng mặt tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Chị ủy quyền cho anh Hoàng Văn H, sinh năm 1989; Nơi cư trú: tổ dân phố Y, phường N, thị xã V, tỉnh Bắc Giang giao nhận tài liệu với Tòa án.

Bị đơn anh Nguyễn Xuân Đ trình bày:

Về quá trình tìm hiểu đi đến hôn nhân, quá trình chung sống của vợ chồng, quá trình đi nước ngoài lao động và mâu thuẫn của vợ chồng ânh nhất trí như chị L đã trình bày. Nay, anh xác định vợ chồng đã ly thân thời gian dài, tình cảm vợ chồng không còn nên anh đồng ý ly hôn với chị L.

Về con chung: anh, chị L có 01 con chung là cháu Nguyễn Xuân T, sinh ngày 17/6/2006. Hiện nay cháu T đã trên 18 tuổi, không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản, công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra anh Đ trình bày: Do bận công việc nên anh đề được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc mà Tòa án triệu tập, vắng mặt tại tất cả phiên tòa xét xử do Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở ra, vắng mặt tại các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự đều xin vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị L; anh Đ và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Các đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt nên thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56 khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị L; xử:

Về hôn nhân: chị Lê Thị L được ly hôn anh Nguyễn Xuân Đ.

Về tài sản, công nợ chung: Do chị L, anh Đ không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Chị Lê Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tính hợp pháp của các văn bản, tài liệu do chị L gửi từ nước ngoài đến Tòa án: Do đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, đơn đề nghị trưng cầu giám định, giấy ủy quyền của chị L gửi đến Tòa án không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam tại nước ngoài. Do vậy, ngày 12/5/2025 Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang ra quyết định số 03/2025/QĐ-TCGĐ trưng cầu giám định dấu vân tay của chị L trong các tài liệu gửi đến Tòa án với mẫu bản chỉ của chị Lê Thị L lưu trữ tại phòng cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội- Công an tỉnh H.

Tại kết luận giám định số 1015/KL-KTHS ngày 28/5/2025 của Phòng K - Công an tỉnh B nêu: Dấu vân tay màu đỏ in tại mục “Ngón trỏ phải” trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu từ A1, A2) so với dấu vân tay tại ô “Trỏ phải” trên bản sao “Phiếu thu nhận thông tin căn cước công dân”, mang tên Lê Thị L, sinh ngày 20/10/1983; số CCCD: [...] (ký hiệu M) do Phòng C1 về TTXH - Công an tỉnh H cung cấp là của cùng một người.

Dấu vân tay màu đỏ in tại mục “Ngón trỏ trái” trên các tài liệu cần giám định (ký hiệu từ A1, A2) so với dấu vân tay tại ô “Trỏ trái” trên bản sao “Phiếu thu nhận thông tin căn cước công dân”, mang tên Lê Thị L, sinh ngày 20/10/1983; số CCCD: [...] (ký hiệu M) do Phòng C1 về TTXH - Công an tỉnh H cung cấp là của cùng một người. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận tính hợp pháp của các văn bản, tài liệu này để giải quyết vụ án.

[2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị L khởi kiện xin ly hôn với anh Đ. Vì vậy, đây là vụ án “ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Về thẩm quyền giải quyết: Theo công văn trả lời số 1183/QLXNC về việc cung cấp thông tin xuất, nhập cảnh ngày 02/5/2025 của Phòng Q - Công an tỉnh B cung cấp, chị L xuất cảnh gần nhất ngày 29/10/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định chị L hiện nay đang lao động tại nước ngoài. Ngoài ra, anh Đ là bị đơn hiện đang tạm trú tại tỉnh Bắc Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4]. Về việc vắng mặt của các đương sự: Đối với nguyên đơn chị Lê Thị L và bị đơn anh Nguyễn Xuân Đ đều có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị L, anh Đ.

[5]. Về hôn nhân: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Xuân Đ kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 23/5/2006 tại Ủy ban nhân dân phường B, quận H, thành phố Hà Nội. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Nguyễn Xuân Đ.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị L, Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị L, anh Đ chung sống hòa thuận. Đến năm 2009 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng nên chị L chuyển về nhà bố mẹ đẻ sinh sống sau đó đi lao động tại nước ngoài, vợ chồng sống ly thân nhau từ đó. Mặc dù trong thời gian mâu thuẫn anh, chị đã chủ động hàn gắn tình cảm cũng như được hai bên gia đình gọi điện khuyên bảo nhưng không được. Đến nay, anh Đ, chị L đều xác định vợ chồng đã sống ly thân một thời gian dài, không ai còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Do đó, Hội đồng xét xử xác định chị L, anh Đ không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L, xử cho chị L được ly hôn anh Đ là phù hợp tình trạng hôn nhân thực tế, phù hợp Điều 51, Điều 53 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.

[6]. Về con chung: chị L, anh Đ có 01 con chung là cháu Nguyễn Xuân T, sinh ngày 17/6/2006. Hiện nay cháu T đã trên 18 tuổi, không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, chị L, anh Đ đều nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[7]. Về tài sản, công nợ chung: Do chị L, anh Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8]. Về án phí: Chị Lê Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

[9]. Về chi phí giám định: do chị Lê Thị L tự nguyện nộp chi phí giám định, chị L đã nộp xong nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[10]. Về quyền kháng cáo:

Chị Lê Thị L vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở nước ngoài, nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh Nguyễn Xuân Đ vắng mặt tại phiên tòa nhưng đang ở trong nước, nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

  1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị L được ly hôn anh Nguyễn Xuân Đ.
  2. Về án phí: Chị Lê Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0005673 ngày 16/4/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị L đã nộp xong án phí sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo bản án: Chị Lê Thị L có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

    Anh Nguyễn Xuân Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • -UBND phường B, quận H, thành phố Hà Nội;
  • -Cổng thông tin điện tử TAND;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Tổ HCTР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 151/2025/HNGĐ-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 151/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung giữa chị L và anh Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger