Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 151/2025/DS-PT

Ngày: 12-3-2025

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh

Các thẩm phán: Ông Đỗ Minh Hoàng

Bà Nguyễn Thu Huyền

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hương -Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà:

Bà Trần Thị Ngoan - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 763/2023/TLPT-DS ngày 29/12/2023 về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất".

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 58/2023/DS-ST ngày 26/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 278/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Mai Văn M, sinh năm 1938; Vắng mặt.

Trú tại: thôn P, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Mai Thị T, sinh năm 1963. Trú tại: thôn H, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội. Theo Giấy ủy quyền ngày 12/11/2021. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông M: Luật sư Phạm Thị H, Công ty L2, Đoàn luật sư thành phố H. Địa chỉ: Số C L, quận B, thành phố Hà Nội. Có mặt.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1960; Có mặt.

Trú tại: thôn P, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Ông Nguyễn Hiệp Lê M1, sinh năm 1999. Địa chỉ liên hệ: Số F T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội. Có mặt.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Mai Thị T, sinh năm 1963; Có mặt. Trú tại: thôn H, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội.
  2. Ông Mai Văn T1, sinh năm 1967; Có mặt. Trú tại: thôn B, phường P, quận H, thành phố Hà Nội.
  3. Ông Mai Văn P, sinh năm 1977; Có mặt. Trú tại: xóm H, thôn V, xã K, huyện K, tỉnh Hà Nam.
  4. Bà Lưu Thị D, sinh năm 1963; Vắng mặt. Trú tại: thôn P, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội.
  5. Chị Mai Thị H1, sinh năm 1986; Có mặt. Trú tại: thôn P, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội.
  6. Anh Mai Thanh H2, sinh năm 1990; Có mặt. Trú tại: thôn P, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội.
  7. Chị Mai Thị T2, sinh năm 1988; Có mặt. Trú tại: thôn Y, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T, ông T1, ông P, bà D, chị H1, anh H2, chị T2: Luật sư Phạm Thị H, Công ty L2, Đoàn luật sư thành phố H. Địa chỉ: Số C L, quận B, thành phố Hà Nội. Có mặt.

  1. Chị Nguyễn Thị Thanh M2, sinh năm 1984; Có mặt.
  2. Anh Lê Duy L, sinh năm 1983; Có mặt.

Cùng trú tại: thôn P, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội.

Do có kháng cáo của bị đơn là bà Nguyễn Thị N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:

* Theo đơn khởi kiện ngày 06/8/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ông Mai Văn M do bà Mai Thị T làm đại diện trình bày:

Gia đình ông Mai Văn M là người quản lý, sử dụng hợp pháp thửa đất số 22, tờ bản đồ số 05 theo hệ bản đồ 299, lập năm 1986, diện tích 328m² tại thôn P, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội. Diện tích đất này có nguồn gốc là do UBND xã H cấp cho gia đình ông M, vì là người có công với cách mạng. Thời điểm, gia đình ông M được cấp thì ông M đang đi chiến đấu ở chiến trường phía Nam, chỉ có vợ là bà Bùi Thị T3 và các con ở nhà.

Vợ chồng ông M, bà T3 (bà T3 chết năm 1984) có 4 người con là Mai Văn K (đã chết năm 2008), có vợ là chị Lưu Thị D và có 4 người con chung là là Mai Thị H1, Mai Thị T2, Mai Thanh H2 và Mai Văn T4 (đã chết năm 2008); Mai Thị T, Mai Văn T1 và Mai Văn P.

Sau khi được cấp đất gia đình ông M đã xây 04 gian nhà tranh, 01 bếp, truồng lợn trên diện tích 328m² đất để sử dụng. Nhà tranh 04 gian xây sát tường nhà ông V, dài khoảng 8m. Thửa đất của gia đình ông M có cạnh phía Nam giáp thửa đất của gia đình bà N. Lúc đầu ranh giới giữa thửa đất của gia đình ông M và thửa đất của gia đình bà N là tường bếp, tường chuồng lợn do gia đình ông M xây dựng, sau này khi bếp, chuồng lợn bị đổ, ông M đã làm hàng rào cúc tần để làm ranh giới thửa đất của hai nhà. Từ khi nhà nước thu tiền sử dụng đất, đến năm 2003, ông M vẫn đóng thuế với diện tích 328m². Từ năm 2004 đến nay mới đóng thuế đối với diện tích 275m².

Thửa đất của gia đình bà N, lúc đầu giáp với chuồng lợn, sau là hàng rào cúc tần của gia đình nhà ông M. Từ năm 1993 đến năm 2003 ông M đi làm ăn xa, vợ chết, các con bé ở nhà không hiểu biết, gia đình bà N đã chặt hàng rào cúc tần và nói nhờ một phần diện đất của gia đình ông M để nuôi gà, sau đó lần dần sang đến nay khoảng 49m².

Quá trình quản lý, sử dụng đất ông M chưa khi nào ký liền kề tại hồ sơ kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình nhà bà N. Bản thân ông M và con trai ông M là ông Mai Văn K, ông Mai Văn T1 (ông M không có người con nào là Nguyễn Văn K1, Nguyễn Văn T5 cả) chưa khi nào ký chuyển nhượng đất cho gia đình bà N.

Khi biết đất của gia đình bị gia đình nhà bà N lấn chiếm, ông M có ý kiến nhưng nhà bà N không nghe. Hai gia đình cũng xích mích thời gian rất dài, gia đình ông M có gửi đơn ra UBND xã H rất nhiều lần để yêu cầu giải quyết, UBND xã đã hòa giải nhiều lần nhưng không được.

Theo bản đồ địa chính 299 lập năm 1986 và bản đồ địa chính 364 lập năm 1994 thì thửa đất số 31, tờ bản đồ 14 tại thôn P, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội đứng tên chủ sử dụng là bà Nguyễn Thị N có diện tích 224m², không thể hiện có phần diện tích lấn chiếm của gia đình ông M. Ngày 14/11/2003, bà N được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 34, tờ bản đồ 14 (bản đồ 1994) với diện tích 249m².

Đến tháng 2 năm 2019, gia đình ông M đến UBND xã H, huyện T, thành phố Hà Nội để kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì mới biết một phần diện tích đất của mình đã bị gia đình bà N lấn chiếm và bà N đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích lấn chiếm này của gia đình ông M.

Ngay sau đó, gia đình ông M đã gửi đơn đến UBND xã H để đề nghị giải quyết việc gia đình bà N lấn chiếm đất của mình UBND xã H đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành.

Vì thấy quyền lợi của mình bị xâm phạm, ông M đã làm đơn khởi kiện bà N tại Tòa án nhân dân huyện T. Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, gia đình bà N đã xây dựng nhà 3 tầng, trong đó có xây cả đến diện tích lấn chiếm của gia đình ông M. Nay ông M khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị N và các thành viên gia đình phải trả lại cho gia đình ông diện tích đất đã lấn chiếm là 49m² đất lấn, đồng thời buộc gia đình bà N phải phá dỡ các công trình đã xây dựng trên phần đất đã lấn chiếm này.

* Bị đơn Bà Nguyễn Thị N trình bày: Gia đình bà đang quản lý, sử dụng diện tích 249m² đất tại thửa số 31, tờ bản đồ 14 tại thôn P, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội. Nguồn gốc thửa đất này là khoảng năm 1980 gia đình bà mua của ông Nguyễn Văn H3 khoảng 220m². Đến năm 1988, ông Nguyễn Văn K1 con của ông Mai Văn M bán cho gia đình bà 27m² của ông M với giá 4 tạ thóc để lấy tiền cấy vụ đông xuân và để anh em nuôi nhau. Vì thửa đất của gia đình bà có cạnh liền kế với thửa đất của ông M nên đã đồng ý mua diện tích đất này. Việc gia đình bà với ông K1 có giấy viết tay giữa hai bên, có ông Nguyễn Văn N1 và bà Nguyễn Thị M3 làm chứng. Khi mua đất của ông K1, chồng bà ông Lê Duy O thực hiện, bà không chứng kiến việc mua bán này, sau này trước khi chết, ông O đưa lại cho bà giấy tờ này. Sau khi anh K1 đã bàn giao đất cho gia đình bà, gia đình bà đã làm chuồng lợn và xây nhà vệ sinh ở trên diện tích đất từ đó đến năm 2021. Khi gia đình bà mua đất, ông M không có nhà, mà đi làm ăn xa, sau này ông M về cũng đã ký vào giấy mua bán này. Năm 2002, khi gia đình bà làm thủ tục để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất nêu trên, ông Mai Văn M đã ký liền kề để nhà bà làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng. Đến năm 2003, ông Lê Duy O, chồng bà được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên. Năm 2019, ông O chết, gia đình bà đã làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế và tặng cho anh Lê Duy L con trai ông bà toàn bộ thửa đất số 34, tờ bản đồ 14 tại thôn P, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội. Năm 2021, anh L đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất này. Hiện quản lý, sử dụng thửa đất có bà và vợ chồng anh Lê Duy L, chị Nguyễn Thị Thanh M2 và hai con của anh L chị M2 là cháu Lê Duy L1 sinh năm 2013 và cháu Lê Đan N2 sinh năm 2015. Ngoài ra không còn ai khác. Cũng trong năm 2021, anh L đã được cấp phép xây dựng nhà ở trên thửa đất nêu trên. Sau khi nhận được thông báo thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân huyện T, gia đình bà đã ngừng xây dựng nhưng đến tháng 10/2021, do không còn chỗ ở nào khác nên gia đình bà tiếp tục xây dựng và cam kết hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc xây dựng khi có phán quyết của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Nay ông M khởi kiện đòi quyền sử dụng đất đối với bà, buộc gia đình bà trả lại 49m2 cho là gia đình bà đã lấn chiếm và buộc gia đình bà dỡ bỏ các công trình đã xây dựng trên diện tích này, bà không không ý, đề nghị Tòa án bác đơn khởi kiện của ông M gia đình bà không lấn chiếm đất của ông M.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

- Anh Lê Duy L, chị Nguyễn Thị Thanh M2: xác nhận toàn bộ lời trình bày cũng như quan điểm của bà Nguyễn Thị N.

- Bà Mai Thị T, ông Mai Văn T1, ông Mai Văn P thống nhất trình bày: Các ông bà là con gái con trai của cụ Mai Văn M và cụ Bùi Thị T3 (cụ T3 đã chết năm 1984). Cụ M và cụ T3 có 4 người con là Mai Văn K (đã chết năm 2008, có vợ là chị Lưu Thị D và có 4 người con chung là Mai Thị H1, Mai Thị T2, Mai Thanh H2 và Mai Văn T4 (đã chết năm 2008); Mai Thị T, Mai Văn T1 và Mai Văn P. Năm 1967, gia đình cụ M được chính quyền địa phương cấp cho thửa đất số 22, tờ bản đồ 05 (bản đồ 1986) diện tích 328m² tại thôn P, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội. Gia đình cụ M được cấp đất là do cụ M đi chiến trường nên được giao đất để vợ con có nơi ở. Sau khi được cấp đất gia đình cụ M ở từ đó đến nay. Năm 1984, cụ T3 chết, trước khi chết cụ T3 không để lại di chúc phân chia tài sản gì. Gia đình Cụ M chưa ai bán đất, hay bán đất cho bất kỳ ai. Ông K là người không biết chữ, ông T1 lúc đó còn đang đi bộ đội, bà T lấy chồng ở làng trên, ông P còn nhỏ không biết gì. Gia đình các ông bà chưa khi nào ký tên vào giấy nhượng đất, giấy mua bán đất cũng như liên quan đến bất cứ giao dịch mua bán đất nào. Chỉ biết gia đình bà N lúc đầu mượn đất của cụ M để nuôi gà chứ không nghe nói việc cụ M hay ông K bán đất cho gia đình bà N. Nay cụ M khởi kiện đòi quyền sử dụng đất đối với bà N yêu cầu bà N cùng gia đình trả lại diện tích đã lấn chiếm và dỡ bỏ phần công trình trên phần đất lấn chiến này. Đề Nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông M.

- Bà Lưu Thị D, chị Mai Thị H1, chị Mai Thị T2 và anh Mai Thanh H2 thống nhất trình bày: Bà D là con dâu cụ Mai Văn M, chị H1, chị T2 và anh H2 là cháu nội cụ M. Năm 1984, bà Lưu Thị D kết hôn với ông Mai Văn K. Ông K, bà D sinh được 4 người con là Mai Thị H1, Mai Thị T2, Mai Thanh H2 và Mai Văn T4 (anh T4 đã chết năm 2009, không có vợ con gì). Từ bé đến vợ chồng bà D cùng các con sống cùng cụ M tại nhà đất thuộc thửa số 22, tờ bản đồ 05 (bản đồ 1986) tại xã H, huyện T, thành phố Hà Nội. Các anh chị chưa khi nào nghe nói cụ M bán đất cho gia đình bà N. Ông K không biết chữ, bản thân chị H1, chị T2, anh H2 khi đó còn bé, ở cùng với cụ M, ông K, không liên quan đến việc bán đất nêu trên. Nay cụ M khởi khiện, bà D và các anh chị đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết đảm bảo quyền lợi cho cụ M. Bà D và các anh chị đề nghị vắng mặt khi Tòa án giải quyết và xét xử vụ án.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Mai Thị T, đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông M giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đòi quyền sử dụng đất đối với bà N. Xác nhận theo hiện trạng đo đạc, phần diện tích gia đình bà N xây dựng lấn chiếm của gia đình ông M bao nhiêu thì trả bấy nhiêu, đồng thời yêu cầu dỡ bỏ toàn bộ công trình trên diện tích đất này. Tại biên bản hòa giải do UBND xã tiến hành ngày 19/3/2020, ông M nói các con đẻ của ông có bán một phần đất cho gia đình bà Nguyễn Thị N và nhất trí với ranh giới đất giữa hai nhà là để lúc đó gia đình bà N ký liền kề cho ông M kê khai cấp sổ đỏ chứ hoàn toàn không có việc bán đất. Ông M không nhớ vì sao có chữ ký tại giấy nhượng đất năm 1988 do gia đình bà N xuất trình. Tại biên bản hòa giải ngày 30/5/2019, bà N khai mua của gia đình ông M 24m² (có giấy tờ viết tay)... Hiện nay mốc giới giữa gia đình bà và gia đình ông M không có vấn đề gì vì gia đình bà đã xây dựng công trình, bà giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ông M có 24m² đất, khi Tòa giải quyết thì khai 27m², nay tại Tòa khai là toàn bộ diện tích các công trình đã xây dựng trên đất là bất nhất.

Bị đơn bà Nguyễn Thị N, đồng thời là đại diện ủy quyền của anh L, chị M2 trình bày: Gia đình bà không lấn chiếm đất của ông M. Việc gia đình bà xây dựng công trình trên diện tích đất mà ông M bảo gia đình bà lấn chiếm là do gia đình bà đã mua của các con ông M năm 1988. Sau này ông M về cũng ký vào giấy bán đất này, cùng ký liền kề cho gia đình bà để gia đình bà được cấp sổ đỏ. Bà Xác nhận nếu gia đình bà xây lấn trên đất của ông M gia đình bà sẽ trả gia đình ông M đất và tháo dỡ các công trình trên đất.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 58/2023/DS-ST ngày 26/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội đã xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện đòi quyền sử dụng đất của ông Mai Văn M đối với bà Nguyễn Thị N.

Buộc bà Nguyễn Thị N và gia đình bà N phải trả lại ông M và gia đình ông M 16,4m² thuộc thửa số 31, tờ bản đồ 14 (bản đồ 1994) tại H, T, Hà Nội. Được giới hạn bởi các điểm 26; 27; 28; 29; 29'; 31; 26'; 26 (có sơ đồ kèm theo)

Buộc bà N và gia đình bà N phải dỡ bỏ toàn bộ các công trình (tường cao 1,2m, nền lát gạch nung đỏ) trên diện tích tích 16,4m² để trả lại diện tích đất này cho gia đình ông M.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm, Bà Nguyễn Thị N là bị đơn trong vụ án kháng cáo toàn bộ bản án với lý do bà không đồng ý với quyết định của bản án, đề nghị bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm bị đơn đề nghị đo đạc lại hiện trạng thửa đất; Cung cấp các bản ảnh thực trạng phần diện tích đất tranh chấp. Nguyên đơn đề nghị định giá lại đất.

Ngày 16/10/2024 và ngày 21/02/2025, Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định đo đạc thửa đất tranh chấp và Hội đồng định giá đã tiến hành định giá tài sản là giá trị quyền sử dụng đất và giá trị tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 31, TBĐ số 14 cấp cho ông Lê Duy O, đã được Sở T8 cấp đổi sang GCNQSD đất số DB709747 ngày 25/6/2021 cho anh Lê Duy L (thửa đất đã được đính chính lại số thửa thành thửa số 8, TBĐ số 49, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội).

- Về giá trị quyền sử dụng đất: Hội đồng định giá thống nhất giá cho 1m² đất ở tại thời điểm định giá là 45.640.000đ/m².

- Về giá trị xây dựng:

  • + Tường bao xung quanh, đơn giá 698.000đ/1m².
  • + Sân gạch, đất nung đỏ 40 x 40, đơn giá 290.000đ/1m².
  • + Mái lợp tôn (bao gồm khung thép đỡ) đơn giá 457.000đ/m².
  • + Vị trí tranh chấp: trên phần đất tranh chấp có 1 phần nhà xây 2 tầng 1 tum dạng biệt thự, đơn giá xây dựng cho 1m² là 7.790.000đ/m².

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn: giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan trình bày luận cứ và đề nghị Tòa án bác yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị đơn: giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu kháng cáo, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Các đương sự không xuất trình chứng cứ mới và không thỏa thuận được cách giải quyết vụ án.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của BLTTDS.

Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ kiện, đại diện VKS nhân dân thành phố H đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 BLTTDS sửa bản án dân sự sơ thẩm số 58/2023/DS-ST ngày 26/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội theo hướng chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn; bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm giải quyết vụ kiện, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị N kháng cáo trong hạn luật định, đã nộp dự phí kháng cáo về hình thức là hợp lệ.

Nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn; Bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn; Người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan và đại diện theo ủy quyền của một số người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan có mặt; Các đương sự khác xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

[2.1]. Thửa đất số 22, tờ bản đồ số 05 với diện tích 328m² tại thôn P, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội: Theo bản đồ năm 1994 là thửa số 32, tờ bản đồ 14 diện tích 275m², đứng tên chủ sử dụng ông Mai Văn M có nguồn gốc là được giao đất theo chủ trương chính sách hậu phương quân đội. Liền kề cạnh phía Nam giáp thửa đất của gia đình ông M là thửa đất số 37, tờ bản đồ 05 diện tích 224m² đứng tên chủ quản lý sử dụng là ông Lê Duy O, bà Nguyễn Thị N. Theo bản đồ năm 1994 thửa đất của gia đình bà N là thửa số 31, tờ bản đồ 14, diện tích 249m², năm 2003, đã được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Lê Duy O. Năm 2021, sau khi ông O chết, gia đình bà N khai nhận di sản thừa kế và tặng cho toàn bộ cho anh Lê Duy L. Anh L đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này. Các đương sự đều thừa nhận, ranh giới ban đầu giữa hai thửa đất là tường chuồng lợn do gia đình ông M xây dựng.

[2.2]. Theo gia đình ông M, do tường chuồng lợn sau này bị đổ, gia đình ông đã làm hàng cúc tần làm ranh giới giữa hai thửa đất, thì gia đình bà N xin mượn đất để nuôi gà dần lấn chiếm đất của gia đình ông và không trả. Xét thấy theo bản đồ năm 1986 thửa đất số 22 đứng tên chủ sử dụng Mai Văn M có cạnh phía Nam giáp thửa đất số 37 đứng tên chủ sử dụng ông Lê Duy O và bà Nguyễn Thị N là một đường thẳng dài hết thửa đất của ông M. Đo đạc thẩm định tại tại chỗ diện tích đối với hai thửa đất dưới sự chỉ dẫn mốc giới của chính gia đình ông M, bà N; chồng ghép với bản đồ năm 1986 đối với thửa đất của hai gia đình, thể hiện gia đình bà N đã lấn chiếm xây dựng công trình sang thửa đất số 22 do gia đình ông M đứng tên chủ sử dụng 40,4m².

[2.3]. Theo bà N, các công trình gia đình bà xây dựng năm trên diện tích 40,4m² thuộc thửa số 22 của gia đình ông M là do vào năm 1988, gia đình ông M đã chuyển nhượng cho gia đình bà; Giấy nhượng đất năm 1988 mặc dù người viết nhượng đất, người mua đất không ký tên nhưng có chữ ký của ông M. Tại biên bản hòa giải do UBND xã H tiến hành ngày 19/3/2020, ông M thừa nhận các con ông đã bán đất cho ông Lê Duy O, chồng bà N. Người làm chứng là ông T6, bà T3 xác nhận chứng kiến việc các con ông M bán đất cho gia đình bà N, và thực tế gia đình bà N sử dụng diện tích này một thời gian dài gia đình ông M không có ý kiến nên có cở sở để khẳng định gia đình ông M đã chuyển nhượng đất cho gia đình bà N vào năm 1988. Bà N xuất trình Giấy nhượng đất.

[2.4]. UBND xã H cung cấp:

  • + Đối với đất của gia đình ông M: Theo hệ bản đồ đo đạc năm 1986 và sổ mục kê lập theo hệ bản đồ năm 1986, ông M là chủ quản lý, sử dụng thửa số 22, tờ bản đồ số 5, diện tích 328m². Hệ bản đồ năm 1994 tương ứng là thửa 32, tờ bản đồ số 14, diện tích 275m². Hiện chưa được cấp GCNQD đất.
  • + Đối với đất của gia đình bà N: Theo hệ bản đồ đo đạc năm 1986 và sổ mục kê lập theo hệ bản đồ năm 1986, gia đình ông O bà N là chủ quản lý, sử dụng thửa số 37, tờ bản đồ số 5, diện tích 224m². Hệ bản đồ năm 1994 tương ứng là thửa 31, tờ bản đồ số 14, diện tích 249m², mục đích sử dụng đất ở.

Theo hệ bản đồ năm 1986, diện tích đất đang tranh chấp giữa ông M, bà N thuộc thửa đất ông M quản lý. Theo hệ bản đồ năm 1994, diện tích đang tranh chấp thuộc đất bà N quản lý.

- Biên bản về việc hoà giải tranh chấp đất đai ngày 30/5/2019 giữa ông M với ông O và một số hộ khác:

  • + Bà N (vợ ông O) trình bày: bà mua của gia đình ông M 24m² (có giấy tờ viết tay)... Hiện nay mốc giới giữa gia đình bà và gia đình ông M không có vấn đề gì vì gia đình bà đã xây dựng công trình.
  • + Bà T (con ông M) trình bày: Bố bà không bán cho gia đình ông O, là do em bà bán, gia đình ông O đã xây dựng chuồng lợn và đã được cấp sổ đỏ, bà công nhận em bà có bán cho gia đình ông O 24m².
  • + Ông M trình bày: Đất bán cho gia đình ông O con ông bán không được rõ vì ông đi xa không có ở nhà.

Hội nghị kết luận: Về mốc giới liền kề giữa gia đình ông M với gia đình ông O, ông T7, ông B không có tranh chấp gì.

- Biên bản làm việc ngày 19/3/2020:

  • + Bà N: Gia đình bà khẳng định không xây dựng lấn chiếm phần diện tích đất của gia đình ông M.
  • + Ông M: Năm 1988, các con đẻ ông có bán một phần diện tích đất cho gia đình bà N và ông O là đúng. Hiện tại đối với phần đất gia đình bà N đã được cấp GCNQSD đất nêu trên, đã công nhận nhất trí về ranh giới, mốc giới theo hiện trạng sử dụng đất thực tế của 2 gia đình đang quản lý, sử dụng. Gia đình ông không có ý kiến thắc mắc gì. Đề nghị UBND xã xem xét cấp GCN cho gia đình ông theo đúng hiện trạng sử dụng đất của gia đình ông là 267,5m².

Hội nghị kết luận: Gia đình bà N và gia đình ông M thống nhất theo đúng ranh giới, mốc giới theo hiện trạng sử dụng thực tế của 2 gia đình đang quản lý, sử dụng, không có tranh chấp gì.

- Biên bản hoà giải ngày 16/6/2020:

  • + Bà N: Gia đình bà vẫn nhất trí theo biên bản hoà giải ngày 19/3/2020.
  • + Ông M do bà T đại diện, trình bày: Trên cơ sở giấy tờ của gia đình, sau khi xem xét lại, gia đình bà không nhất trí với nội dung biên bản hoà giải ngày 19/3/2020. Đề nghị bà N trả 39m² đất hiện nằm trong GCNQSD đất của gia đình bà N do việc chuyển nhượng trước đây theo như giấy tờ là không đúng quy định của pháp luật.

- Kết luận giám định số 5940 ngày 30/8/2022 của Phòng K2- CATPHN kết luận: Không đủ cơ sở kết luận chữ kí, chữ viết dòng họ tên "Mai Văn M" dưới mục "Các chủ sử dụng đất liền kề" trên mẫu cần giám định (Biên bản xác định ranh giới thửa đất ngày 9/10/2003) với chữ kí, chữ viết đứng tên "Mai Văn M" trên mẫu so sánh (Giấy uỷ quyền ngày 6/7/2017, người uỷ quyền đứng tên "Mai Văn M".

- Kết luận giám định số 369 ngày 11/11/2022 của V1- Bộ C:

Mẫu cần giám định: Giấy nhượng đất ngày 15/2/1988 (kí hiệu A1); Biên bản xác định ranh giới thửa đất ngày 9/10/2003 kí hiệu A2.

Mẫu so sánh: Hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt ngày 10/5/2007 (M1); Cam kết xây dựng nông thôn mới ngày 21/8/2012 (M2); Đơn xác nhận ngày 5/6/2016 (M3)

Kết luận:

- Chữ „Minh“, chữ kí dưới chữ M dưới mục ký tên“ trên mẫu cần giám định kí hiệu A1 so với chữ viết, chữ kí đứng tên Mai Văn M trên các mẫu so sánh do cùng 1 người viết, kí ra.

- Chữ kí, chữ viết đứng tên "Mai Văn M" dưới mục “Các chủ sử dụng đất liền kề" trên mẫu cần giám định kí hiệu A2 so với chữ viết, chữ kí đứng tên "Mai Văn M" trên các mẫu so sánh không phải do cùng 1 người viết, kí ra.* Xét kháng cáo của bà N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không đồng ý phá tường trả lại nguyên đơn 16,4m² đất.

Hội đồng xét xử nhận thấy:

- Về diện tích chuyển nhượng:

Bị đơn xuất trình Giấy nhượng đất ngày 15/2/1988 có nội dung: Tôi là Nguyễn Văn K1 vợ là Nguyễn Thị D1, em trai Nguyễn Văn T5 ... lý do tôi nhượng lại cho anh O ba thước đất... chiều dài từ đầu tường ngăn tới sát tường ông V, chiều ngang từ dào anh O sang ba thước tây... Giấy chuyển nhượng chỉ có chữ kí của ông M.

Bản án sơ thẩm đã xác định gia đình ông M chuyển nhượng cho gia đình bà N 24m². Còn bà N cho rằng toàn bộ diện tích đất chuyển nhượng (theo biên bản thẩm định là 40,6m²) đã được cấp GCNQSD đất, đã có ranh giới rõ ràng nên không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bản án sơ thẩm đã căn cứ vào giấy nhượng đất: Bà T khai nhà tranh 4 gian ban đầu của gia đình có một cạnh giáp tường nhà ông V và chiều dài nhà khoảng 8m, phù hợp với việc xác định ranh giới, mốc giới diện tích đất chuyển nhượng được nêu trong Giấy nhượng đất năm 1988 “Chiều dài từ đầu tường ngăn tới sát tường ông V, chiều ngang từ dào anh O sang 3 thước tây”. Và nhận định: “Như vậy mặc dù nội dung giấy nhượng đất không nêu rõ chiều dài và diện tích đất chuyển nhượng nhưng vẫn xác nhận được chiều dài diện tích đất chuyển nhượng theo giấy nhượng đất là 8m và diện tích là 24m²”. Tuy nhiên thấy, theo sơ đồ hiện trạng cũng như sơ đồ kèm theo bản án sơ thẩm lại thể hiện diện tích gia đình bà N mua có chiều rộng là 1,79m và chiều dài là 13,04m mà không phải chiều dài là 8m và chiều rộng là 3m như phần nhận định của bản án. Vì vậy, phần nhận định trên của bản án là không phù hợp.

Xét Giấy nhượng đất ngày 15/2/1988 có nội dung: Tôi là Nguyễn Văn K1 vợ là Nguyễn Thị D1, em trai Nguyễn Văn T5 lý do tôi nhượng lại cho anh O ba thước đất... chiều dài từ đầu tường ngăn tới sát tường ông V, chiều ngang từ dào anh O sang ba thước tây... Giấy chuyển nhượng chỉ có chữ kí của ông M (theo kết luận giám định số 369/11.11.2022 của V1- Bộ C). Nhận thấy, giấy chuyển nhượng có nội dung không rõ ràng, phần trên thì ghi chuyển nhượng ba thước đất, dưới mô tả vị trí đất nhưng không thể hiện kích thước các cạnh, hiện nay mốc giới là đầu tường ngăn không còn do đó không có căn cứ xác định chính xác diện tích và vị trí đất tại thời điểm chuyển nhượng.

Tại biên bản hoà giải ngày 30/5/2019 tại UBND xã H, bà N trình bày: Bà mua của gia đình ông M 24m² đất (có giấy tờ viết tay). Hiện nay mốc giới giữa gia đình tôi với gia đình ông M không có vấn đề gì vì gia đình tôi đã xây dựng công trình. Khi con trai ông M bán có cắm cọc cho gia đình bà sử dụng. Bà T (con ông M) trình bày: Bố tôi không bán cho gia đình ông O, là do em tôi bán, phần bán cho gia đình ông O gia đình ông O đã xây dựng chuồng lợn và đã được cấp sổ đỏ, tôi công nhận em tôi có bán cho gia đình ông O 24m². Ông M: Đất bán cho gia đình ông O con tôi bán, tôi không rõ vì tôi đi xa, không có ở nhà.

[2.5]. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bà N khai gia đình bà mua 27m², tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm bà N khai là toàn bộ phần công trình gia đình bà đã xây dựng trên diện tích mua của gia đình ông M. Lời khai của bà N không thống nhất. Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Mai Thị T khai nhà tranh 4 gian ban đầu của gia đình có một cạnh giáp tường nhà ông V và chiều dài nhà khoảng 8m, phù hợp với việc xác định ranh giới, mốc giới diện tích đất chuyển nhượng được nêu trong Giấy nhượng đất năm 1988 gia đình bà N xuất trình (có chữ ký của ông M): “Chiều dài từ đầu tường ngăn tới sát tường ông V, chiều ngang từ dài anh O sang 3 thước tây”.

Thấy rằng, tại giấy chuyển nhượng không ghi cụ thể diện tích chuyển nhượng, tại các biên bản hoà giải tại xã bà N có khai nhận chuyển nhượng của gia đình ông M 24m², nhưng do bà N không phải là người trực tiếp nhận chuyển nhượng, không chứng kiến việc chuyển nhượng, việc chuyển nhượng là do ông O (chồng bà N) thực hiện, vì vậy lời trình bày này của bà N về diện tích đất chuyển nhượng là không chính xác. Tại các buổi hoà giải bà N vẫn khẳng định Hiện nay mốc giới giữa gia đình tôi với gia đình ông M không có vấn đề gì vì gia đình tôi đã xây dựng công trình. Như vậy thể hiện ý thức của bà N vẫn xác định toàn bộ diện tích gia đình bà nhận chuyển nhượng của gia đình ông M chính là diện tích gia đình bà đang sử dụng và đã có ranh giới rõ ràng.

Tại Biên bản làm việc ngày 19/3/2020, bản thân ông M cũng thừa nhận: Hiện tại đối với phần đất gia đình bà N đã được cấp GCNQSD đất, đã công nhận nhất trí vì ranh giới, mốc giới theo hiện trạng sử dụng đất thực tế của 2 gia đình đang quản lý, sử dụng. Gia đình tôi không còn ý kiến thắc mắc gì. Đề nghị UBND xã xem xét cấp GCN cho gia đình tôi theo đúng hiện trạng sử dụng đất của gia đình tôi là 267,5m²). Việc yêu cầu của ông M được cấp GCNQSD đất với diện tích đất theo hiện trạng đang sử dụng là 267,5m² gần tương đương với diện tích đất gia đình ông M đang sử dụng theo sơ đồ hiện trạng trong quá trình giải quyết vụ án là 271,8m² (không bao gồm diện tích đất tranh chấp).

Như vậy, mặc dù giấy chuyển nhượng không ghi rõ diện tích và vị trí đất chuyển nhượng, nhưng nội dung 2 biên bản hoà giải tại xã nêu trên đều thể hiện các đương sự thừa nhận diện tích và vị trí đất chuyển nhượng chính là diện tích đất gia đình bà N đang sử dụng (theo biên bản thẩm định là 40,4m²). Việc chuyển nhượng đã được thực hiện theo quy định của pháp luật (đã được cấp GCNQSD đất cho ông O năm 2003), gia đình bà N, ông O đã sử dụng ổn định và không có tranh chấp, chỉ đến năm 2019, khi gia đình ông M làm hồ sơ cấp GCNQSD đất nhưng các hộ liền kề không kí giáp ranh cho gia đình ông với lý do gia đình ông sử dụng đất công thì khi đó mới xảy ra tranh chấp. Vì vậy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mai Văn M đối với bà Nguyễn Thị N về việc tranh chấp quyền sử dụng đất xác định ranh giới, tháo dỡ công trình trên đất lấn chiếm tại thửa số 37, tờ bản đồ số 5, diện tích 224m² (hệ bản đồ năm 1986), tương ứng là thửa 31, tờ bản đồ số 14, diện tích 249m² (hệ bản đồ năm 1994) thôn P, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội.

Kháng cáo của bà N là có căn cứ chấp nhận, cần sửa Bản án dân sự số 58/2023/DS-ST ngày 26/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội theo hướng phân tích trên.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[3] Về án phí:

Ông Mai Văn M, bà Nguyễn Thị N thuộc trường hợp người cao tuổi nên không phải chịu án phí dân sự theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Điều 26; khoản 1 Điều 38, Điều 147, Điều 148, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Điều 160, Điều 166, Điều 175, Điều 176, Điều 579 Bộ luật dân sự 2015.
  • - Điều 97, Điều 100, Điều 170, Điều 209 Luật Đất đai năm 2013
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc thu nộp án phí.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà Nguyễn Thị N.
  2. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 58/2023/DS-ST ngày 26/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội, cụ thể như sau:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Mai Văn M đối với bà Nguyễn Thị N về việc tranh chấp quyền sử dụng đất xác định ranh giới, tháo dỡ công trình trên đất lấn chiếm tại thửa số 37, tờ bản đồ số 5, diện tích 224m² (hệ bản đồ năm 1986), tương ứng là thửa 31, tờ bản đồ số 14, diện tích 249m² (hệ bản đồ năm 1994) thôn P, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội.

  1. Về án phí:

Ông Mai Văn M, bà Nguyễn Thị N được miễn án phí dân sự theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - TAND huyện T;
  • - Chi cục THADS huyện T;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu văn phòng, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Lan Anh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 151/2025/DS-PT ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 151/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án dân sự phúc thẩm giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn là ông Mai Văn M và bị đơn là bà Nguyễn Thị N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger