|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 151/2025/DS-ST Ngày: 20-6-2025 V/v tranh chấp vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA – TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Như.
Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Đổi
Ông Nguyễn Chí Lin
Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Tùng Khương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 668/2024/TLST-DS, ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 234/2025/QĐST-DS ngày 20/5/2025 giữa:
Nguyên đơn: Bà Lý Ngọc T, sinh năm 1981; Địa chỉ thường trú: Số I, Kênh A, phường T, quận T, TP ..
Địa chỉ tạm trú: Ấp G, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
Bị đơn: Bà Phạm Thị Thu H, sinh năm 1987; địa chỉ: Ấp G, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
(bà T có đơn xin xét xử vắng mặt, bà H mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lý Ngọc T trình bày:
Bà Lý Ngọc T là hàng xóm với bà Phạm Thị Thu H tại ấp G, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Do làm ăn khó khăn nên bà H có hỏi vay tiền bà để làm vốn làm ăn, hứa mỗi tháng sẽ trả bà 2.000.000 đồng coi như hỗ trợ tiền sữa, tả cho con bà và sau một tháng sẽ trả hết tiền nợ gốc đã vay của bà.
Cụ thể các lần như sau:
- Ngày 17/01/2024: vay 500.000 đồng;
- Ngày 18/01/2024: vay 1.500.000 đồng;
- Ngày 19/01/2024: vay 3.000.000 đồng;
- Ngày 30/01/2024: vay 5.000.000 đồng và 17.000.000 đồng;
- Ngày 01/02/2024: vay 4.000.000 đồng.
Tổng cộng số tiền bà đã chuyển cho bà H vay là 31.000.000 đồng nhưng bà N (em bà H) đã trả cho bà 1.000.000 đồng. Số tiền bà H vay còn lại là 30.000.000 đồng. Theo như thỏa thuận thì bà H phải trả cho bà mỗi tháng 2.000.000 đồng và sau một tháng sẽ trả hết tiền nợ đã vay, nhưng bà H chưa trả cho bà bất cứ khoản tiền nào, bà có nhiều lần qua nhà nhưng bà H cứ hứa hẹn, dẫn đến sự việc kéo dài.
Nhận thấy, việc bà Phạm Thị Thu H cố tình trốn tránh, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ là không đúng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà. Vì vậy bà T khởi kiện bà Phạm Thị Thu H đến Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa xét giải quyết buộc bà H phải trả cho bà số tiền 30.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
Bị đơn bà Phạm Thị Thu H đã nhận được Thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không đến tòa, không có ý kiến phản hồi gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Lý Ngọc T tranh chấp đòi lại số tiền đã cho bà Phạm Thị Thu H vay, bà H hiện cư trú tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An nên Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Tranh chấp vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An theo quy định tại khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về xét xử vắng mặt các đương sự: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn bà Phạm Thị Thu H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm theo quy định tại các Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án: Theo đơn khởi kiện, bà T khởi kiện yêu cầu bị đơn là bà H trả lại số tiền đã gốc vay là 30.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Về chứng cứ bà T cung cấp sao kê thông tin chuyển khoản.
[3] Bị đơn bà H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng thể hiện bà T yêu cầu bà H trả lại số tiền 30.000.000 đồng đã vay nhưng bà H không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”, việc bà H không phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được xem là tình tiết sự kiện mà nguyên đơn không phải chứng minh. Như vậy, có cơ sở xác định bà H còn nợ bà T số tiền trên và cần buộc bà H trả số tiền trên cho bà T.
[4] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/QH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 là đúng quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, các Điều 227, 228, 273, 288, 483 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ các Điều 6, 26 Nghị quyết số 326/2016/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lý Ngọc T về việc “Tranh chấp vay tài sản” đối với bà Phạm Thị Thu H.
1.1. Buộc bà Phạm Thị Thu H có nghĩa vụ trả cho bà Lý Ngọc T số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
1.2. Thời gian thực hiện từ khi án có hiệu lực cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu bên phải thi hành án không trả số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
2. Về án phí: Buộc bà Phạm Thị Thu H phải chịu 1.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho bà Lý Ngọc T số tiền 650.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005668 ngày 23/9/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
3. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm và tuyên án công khai, đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Ngọc Như |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Trần Thị Đổi – Nguyễn Chí Lin |
Lê Thị Ngọc Như |
Bản án số 151/2025/DS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA – TỈNH LONG AN về tranh chấp vay tài sản
- Số bản án: 151/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA – TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lý Ngọc Tú "Tranh chấp vay" Phạm Thị Thu Hằng
