|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 151/2025/DS-ST Ngày: 17-02-2025 V/v: “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Xuân Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Hương Thủy.
Bà Nguyễn Thị Chi.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Quang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Lê Quang Đ - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 13 và ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố H sử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1317/2022/TLST- DS ngày 27 tháng 12 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10360/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 536/2025/QĐST-DS ngày 21 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
Bà Phạm Thị Đ1, sinh năm: 1970
Địa chỉ: Số nhà C, Đường F, Khu phố B, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Đ1: Ông Nguyễn Cảnh T, sinh năm 1994;
Địa chỉ: Phòng L Lexington R, F M, phường M, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).
(Giấy ủy quyền: ngày 14/07/2022).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Đ1: Ông Nguyễn Quốc A, sinh năm 1968 – Luật sư – Công ty L - Thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (Có mặt).
Bị đơn: Công ty TNHH MTV Đ2;
Địa chỉ: C đường T, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện theo pháp luật: ông Lê Văn N, sinh năm: 1982 (vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn N, sinh năm 1982
Địa chỉ: C đường T, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông T trình bày:
Ngày 11/11/2017, bà Phạm Thị Đ1 và Công ty TNHH MTV Đ2 (sau đây gọi tắt là “Công ty Đ2”) có ký Hợp đồng dịch vụ số: 68/HĐ-DV/HTN17 với các thỏa thuận cơ bản như sau:
Đối tượng Hợp đồng:
Tư vấn phương án tách thửa đất nông nghiệp, lập thủ tục tách thửa đất nông nghiệp, chuyển mục đi lên đất ở, xin giấy phép cơ sở hạ tầng, lập nghiệm thu hạ tầng kỹ thuật, đánh giá tác động của môi trường, cắm mốc ranh đất cho các thửa đất, ra phương án phân lô, tiến hành tách sổ lẻ đất theo phương án phân lô cho thửa đất tại địa chỉ: G Đ, phường P, Quận I (nay là thành phố T).
Tổng giá trị Hợp đồng:
12.500.000.000 đồng chưa bao gồm 10% VAT
Thời gian thực hiện:
Là 105 ngày (không bao gồm ngày nghỉ, thứ bảy, chủ nhật, lễ) kể từ ngày nhận tiền tạm ứng đợt 1 và các thỏa thuận về tạm ứng chi, phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại.....
Để thực hiện hợp đồng, theo yêu cầu của ông Lê Văn N – Giám đốc Công ty Đ2 thì bà Đ1 đã chuyển tiền tạm ứng đợt 1 vào tài khoản số 0081000454553 của cá nhân ông Lê Văn N mở tại Ngân hàng V – Chi nhánh Q với số tiền 3.750.000.000 đồng cụ thể: Ngày 15/11/2017 chuyển 600.000.000 đồng và ngày 05/12/2017 chuyển tiếp 3.150.000.000 đồng.
Tại Điều 5 của Hợp đồng thì: Thời gian thực hiện các phần việc trong hợp đồng là 105 ngày (không bao gồm ngày nghỉ, thứ bảy, chủ nhật, lễ) kể từ ngày nhận tiền đợt 1 (cụ thể: Tách thửa ra sổ đất nông nghiệp là 30 ngày; chuyển mục đích ở, thục tục nộp tiền sử dụng đất 21 ngày; xin giấy phép duyệt cơ sở hạ tầng, nghiệm thu hạ tầng, đấu nối là 30 ngày; Đánh giá tác động môi trường là 03 ngày; Cắm mốc ranh đất, tách sổ nhỏ lẻ 21 ngày).
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty Đ2 có gửi văn bản đến cơ quan có thẩm quyền và nhận được công văn số 3364 ngày 19/12/2017, công văn số: 3497/TNMT ngày 29/12/2017 của Phòng T2 với nội dung: “không giải quyết trường hợp tách thửa của bà Phạm Thị Đ1 nêu trên”. Tuy nhiên, Công ty Đ2 N không báo cho bà Đ1 về phản hồi này. Từ sau khi nhận được phản hồi của Cơ quan có thẩm quyền, Công ty Đ2 không thực hiện thêm bất kỳ hoạt động nào để xin tách thửa cho bà Đ1.
Vì lo lắng chậm tiến độ sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của mình nên bà Đ1 đã liên hệ với Công ty Đ2 và ông Lê Văn N để yêu cầu chấm dứt Hợp đồng và trả lại cho bà Đ1 số tiền đã nhận nhưng Công ty Đ2 và ông Lê Văn N không thực hiện.
Căn cứ các nội dung điều khoản tại Hợp đồng số 68/HĐ-DV/HTN17 thì Công ty Đ2 vi phạm nghĩa vụ gây thiệt hại quyền lợi ích hợp pháp của bà Đ1. Đồng thời, tại Hợp đồng, Công ty Đ2 yêu cầu bà Đ1 thanh toán vào tài khoản cá nhân của ông Lê Văn N thay vì chuyển vào tài khoản của Công ty Đ2 N là không đúng quy định của pháp luật. Do vậy ông N có ý định gian dối, trốn tránh trách nhiệm từ trước.
2
Từ những phân tích như trên bà Đ1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- - Chấm dứt Hợp đồng dịch vụ số 68/HĐ – DV/HTN17, ngày 11/11/2017 giữa bà Phạm Thị Đ1 và Công ty TNHH MTV Đ2;
- - Buộc Công ty TNHH MTV Đ2 và ông Lê Văn N liên đới hoàn trả lại toàn bộ số tiền đã nhận của bà Phạm Thị Đ1 để thực hiện hợp đồng 68 với số tiền là: 3.750.000.000 đồng (Ba tỷ bảy trăm năm mươi triệu đồng).
- - Buộc Công ty TNHH MTV Đ2 và ông Lê Văn N liên đới trả 01 lần ngày khi bản án/ quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn Công ty Đ2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Văn N vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết hồ sơ nên không ghi nhận được ý kiến của Công ty Đ2 và ông Lê Văn N mặc dù Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã niêm yết giấy triệu tập và thông báo thụ lý cho Công ty Đ2 cũng như ông Lê Văn N lên để làm bản tự khai ngày 17/05/2023, niêm yết giấy triệu tập và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 27/11/2023, niêm yết giấy triệu tập và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 01/11/2024, niêm yết Quyết định đưa vụ án ra xét xử ngày 25/12/2024, niêm yết Quyết định hoãn phiên tòa và Quyết định đưa vụ án ra xét xử ngày 23/01/2025. Đồng thời ngày 08/01/2025 Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định thông báo giải quyết vụ án trên thông tin đại chúng số 195.
Tại phiên tòa hôm nay:
Đại diện ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Cảnh T trình bày:
Thứ nhất: Đối với yêu cầu chấm dứt Hợp đồng dịch vụ số 68/HĐ – DV/HTN17, ngày 11/11/2017 giữa bà Phạm Thị Đ1 và Công ty TNHH MTV Đ2 là có căn cứ vì Công ty Đ2 đã vi phạm các nghĩa vụ của Hợp đồng:
Bà Phạm Thị Đ1 và Công ty TNHH MTV Đ2 (Sau đây gọi tắt là “Công ty Đ2”) có ký Hợp đồng dịch vụ số 68/HĐ – DV/HTN17 ngày 11/11/2017, tổng giá trị hợp đồng: 12.500.000.000 đồng (Mười hai tỷ năm trăm triệu đồng), chưa bao gồm 10% VAT. Nội dung công việc là: Công ty Đ2 tư vấn cho bà Đ1 phương án tách thửa đất nông nghiệp, lập thủ tục tách thửa đất nông nghiệp, chuyển mục đích ra đất ở, xin giấy phép cơ sở hạ tầng, lập nghiệm thu hạ tầng kỹ thuật, đánh giá tác động môi trường, cắm mốc ranh đất cho các thửa đất, ra phương án phân lô, tiến hành tách sổ lẻ đất ở theo phương án phân lô cho thửa đất tại địa chỉ số G Đ, phường P, Quận I (nay là Thành phố T). Việc ký kết Hợp đồng của các bên là hợp pháp, phù hợp với quy định của các Điều 116, 117, 385, 401 của Bộ luật Dân sự 2015.
Căn cứ quy định tại Điều 5 của Hợp đồng, thời gian thực hiện Hợp đồng là 105 ngày (không bao gồm ngày nghỉ, thứ bảy, chủ nhật, lễ) kể từ ngày nhận tiền Đợt 1. Theo Điều 6, trách nhiệm của Công ty Đ2 là phải đảm bảo thực hiện Hợp đồng đúng tiến độ; hoàn trả tiền (trừ chi phí đo vẽ) cho bà Phạm Thị Đ1 trong trường hợp Hợp đồng không thể thực hiện được (nếu có)...
3
Căn cứ vào các Uỷ nhiệm chi ngày 15/11/2017 và Uỷ nhiệm chi ngày 05/12/2017 có thể xác định bà Phạm Thị Đ1 đã chuyển tổng cộng số tiền tạm ứng đợt 1 là: 3.750.000.000 đồng (Ba tỷ bảy trăm năm mươi triệu đồng) vào số tài khoản 0881000454553 của cá nhân ông Lê Văn N mở tại Ngân hàng V – Chi nhánh Q.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, Công ty Đ2 đã vi phạm nghĩa vụ của Hợp đồng, cụ thể: Kể từ khi nhận được tiền Đợt 1, Công ty chỉ mới thực hiện việc nộp hồ sơ Kiểm tra nội nghiệp bản vẽ ngày 15/11/2017. Văn phòng Đ3 – Chi nhánh Q đã trả kết quả từ chối hồ sơ. Kể từ thời điểm bị từ chối hồ sơ, Công ty Đ2 không có bất kỳ hoạt động nào để thực hiện Hợp đồng số 68. Sau đó bà Đ1 có nhận được các công văn số 3364 ngày 19/12/2017 và công văn số 3497/TNMT ngày 29/12/2017 của Phòng T2 với nội dung “không giải quyết trường hợp xin chia tách thửa của bà Phạm Thị Đ1 nêu trên”. Khi này bà Đ1 mới biết được là thửa đất của bà không thể tách thửa được, bà Đ1 đã có thông báo cho Công ty Đ2 và ông Lê Văn N về vấn đề này và yêu cầu có hướng xử lý phù hợp nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết.
Như vậy, Công ty Đ2 đã vi phạm các nghĩa vụ tại Hợp đồng số 68 và trên cơ sở các văn bản trả lời của Phòng T2 (nay là Tp .) xác định đối tượng của Hợp đồng không thể thực hiện được. Do đó, bà Phạm Thị Đ1 yêu cầu chấm dứt Hợp đồng dịch vụ số 68/HĐ – DV/HTN17 ngày 11/11/2017 giữa bà Phạm Thị Đ1 và Công ty TNHH MTV Đ2 là có căn cứ để được chấp nhận.
Thứ hai: Đối với yêu cầu buộc Công ty TNHH MTV Đ2 và ông Lê Văn N liên đới hoàn trả lại toàn bộ số tiền đã nhận của bà Phạm Thị Đ1 để thực hiện hợp đồng 68 với số tiền là: 3.750.000.000 đồng (Ba tỷ bảy trăm năm mươi triệu đồng) là có cơ sở vì:
Căn cứ Điều 6 của Hợp đồng, Công ty Đ2 có trách nhiệm hoàn trả tiền (trừ chi phí đo vẽ) cho bà Phạm Thị Đ1 trong trường hợp Hợp đồng không thể thực hiện được (nếu có)... Trên cơ sở các phân tích nêu trên, có đủ căn cứ xác nhận Hợp đồng số 68 không thể thực hiện được.
Việc bà Phạm Thị Đ1 yêu cầu ông Lê Văn N và Công ty Đ2 liên đới trả số tiền: 3.750.000.000 đồng (Ba tỷ bảy trăm năm mươi triệu đồng) là có căn cứ. Bởi tại thời điểm ký Hợp đồng, ông Lê Văn N - người đại diện theo pháp luật của Công ty Đ2 đã yêu cầu bà Phạm Thị Đ1 đã chuyển tiền tạm ứng Đợt 1 là: 3.750.000.000 đồng (Ba tỷ bảy trăm năm mươi triệu đồng) vào số tài khoản 0881000454553 của cá nhân ông Lê Văn N mở tại Ngân hàng V – Chi nhánh Q.
Do đó, ông Lê Văn N phải có trách nhiệm liên đới, cùng với Công ty Đ2 N trả lại cho bà Phạm Thị Đ1 số tiền 3.750.000.000 đồng (Ba tỷ bảy trăm năm mươi triệu đồng). Bà Đ1 đã nhiều lần gửi thông báo yêu cầu trả lại tiền nhưng ông Lê Văn N và Công ty Đ2 viện đủ lý do để không thanh toán, đã gây cho bà Đ1 nhiều khó khăn về tài chính.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Đ1, tuyên buộc:
- - Chấm dứt Hợp đồng dịch vụ số 68/HĐ – DV/HTN17, ngày 11/11/2017 giữa bà Phạm Thị Đ1 và Công ty TNHH MTV Đ2;
4
- - Buộc Công ty TNHH MTV Đ2 và ông Lê Văn N liên đới hoàn trả lại toàn bộ số tiền đã nhận của bà Phạm Thị Đ1 để thực hiện hợp đồng 68 với số tiền là: 3.750.000.000 đồng (Ba tỷ bảy trăm năm mươi triệu đồng).
- - Buộc Công ty TNHH MTV Đ2 và ông Lê Văn N liên đới trả 01 lần ngày khi bản án/ quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Thứ nhất: Cơ sở chấm dứt hợp đồng và yêu cầu trả lại tiền:
Về mục đích của Hợp đồng số 68/2017 là tách thửa, chuyển mục đích sử dụng đất, hình thức khoán trọn gói. Quyền nghĩa vụ các bên được quy định tại Điều 2, Điều 5 của hợp đồng; Nguyên đơn trả phí đợt 1: (30%); Bị đơn: “Tách thửa ra sổ đất nông nghiệp” - 30 ngày (Điều 5 - Hợp đồng số 68/2017)
Kết quả thực hiện theo Hợp đồng tới hiện nay: Nguyên đơn đã chuyển đủ 3.750.000.000 đồng nhưng bị đơn không thực hiện như đã thỏa thuận trong Hợp đồng.
Lý do:
- Đất: Quy hoạch đất giáo dục từ năm 2013 (trước thời điểm hai bên ký hợp đồng 68/2017
- Tại bản vẽ bị đơn cung cấp trong hồ sơ xin tách thửa nộp cơ quan có thẩm quyền thể hiện: Tách thửa đối với đất Nông nghiệp nhưng lại có để phần đất giao thông là không đúng quy định pháp luật đất đai, nên cơ quan có thẩm quyền không chấp nhận cho tách thửa.
Chứng cứ là các văn bản trả lời của Phòng T2 và Chi nhánh Văn phòng Đ3 (vì người đại diện đã nêu tôi không nhắc lại)
Như vậy: Theo pháp luật hiện hành thì Bị đơn (Công ty Đ2) không thể thực hiện được việc tách thửa đất và chuyển mục đích sử dụng đất như đã thỏa thuận trong hợp trong hợp đồng số 68/2017.
Do đó:
- Bị đơn đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng
- Ngoài ra: Căn cứ khoản 7.4 điều 7 của hợp đồng số 68/2017: “Trong trường hợp Bất khả kháng, chủ đầu tư (nguyên đơn) sẽ thanh toán cho tư vấn (Bị đơn) các sản phẩm đã hoàn thành và đã được chủ đầu tư xác nhận”,
Thứ hai: Căn cứ để yêu cầu cá nhân ông Lê Văn N và Công ty Đ2 chịu trách nhiêm liên đới liên đới tra tiền cho Nguyên đơn.
- Theo Hợp đồng: Có thể hiện số tài khoản chuyển tiền: 180214849219538, Ngân hàng E, chi nhánh Q.
- Nhưng theo yêu cầu đại diện theo pháp luật của Công ty Đ2: Chuyển vào tài khoản cá nhân của ông Lê Văn N (có đủ chứng cứ về việc Nguyên đơn đã chuyển 3.750.000.000 đồng cho cá nhân ông Lê Văn N)
- Không đúng theo thỏa thuận tại hợp đồng
5
- Trái quy định pháp luật
- Hợp đồng dịch vụ được ký giữa Nguyên đơn và Công ty Đ2 vì vậy Công ty Đ2 là đơn vị thụ hưởng đối với khoản tiền 3.750.000.000 đồng.
- Mặc dù Công ty Đ2 do ông Lê Văn N đại diện pháp luật và là chủ sở hữu. Nhưng Công ty Đ2 có tư cách pháp nhân và có tài sản tách bạch với tài sản cá nhân của ông Lê Văn N; Vì vậy: Ông Lê Văn N yêu cầu nguyên đơn chuyển tiền của thực hiện Hợp đồng số 68/2017 vào tài khoản cá nhân là vi phạm Điều 14 Luật doanh nghiệp năm 2014, Điều 13 luật Doanh nghiệp 2020.
1.Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp có trách nhiệm sau đây:
- Trung thành với lợi ích của doanh nghiệp; không sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp, không lạm dụng địa vị, chức vụ và sử dụng tài sản của doanh nghiệp để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác;
2. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm cá nhân đối với những thiệt hại cho doanh nghiệp do vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này.
Cụ thể:
- Trong vụ án này ông N đã yêu cầu nguyên đơn chuyển tiền của Công ty Đ2 N vào tài khoản cá nhân của mình. Để chứng minh mình không sử tài sản doanh nghiệp vào việc tư lợi, thì ông N có nghĩa vụ chứng minh thông qua chứng từ giao nhận khoản tiền này giữa Công ty Đ2 với ông Lê Văn N và phải được thể hiện trong sổ sách kế toán và báo cáo tài chính hàng năm của Công ty Đ2. Nhưng trong hồ sơ vụ án không có bất cứ tài liệu chứng cứ nào thể hiện ông Lê Văn N đã giao khoản tiền này cho Công ty Đ2 sau khi nhận từ nguyên đơn.
Như vậy hoàn toàn có cơ sở xác định ông N đang nắm giữ 3.750.000.000 đồng tiền của Công ty Đ2 và ông N đã vi phạm nghĩa vụ của người đại diện pháp luật Công ty Đ2, cụ thể là nắm giữ sử dụng tài sản doanh nghiệp vào mục đích cá nhân.
Áp dụng Khoản 2 Điều 14 Luật Doanh nghiệp 2014: “2. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chịu trách nhiệm cá nhân đối với những thiệt hại cho doanh nghiệp do vi phạm nghĩa vụ quy định tại khoản 1 Điều này”.
Do đó có cơ sở xác định ông Lê Văn N chịu trách nhiệm cá nhân đối với khoản tiền 3.750.000.000 đồng mà nguyên đơn đã chuyển trả cho Công ty Đ2 để thực hiện Hợp đồng dịch vụ số 68/2017.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Đ1, tuyên:
- Chấm dứt Hợp đồng dịch vụ số 68/HĐ – DV/HTN17, ngày 11/11/2017 giữa bà Phạm Thị Đ1 và Công ty TNHH MTV Đ2;
6
- Buộc Công ty Đ2 và ông Lê Văn N chịu trách nhiệm liên đới hoàn trả lại 3.7500.000.000 đồng là số tiền đã nhận của Nguyên đơn để thực hiện hợp đồng 68/2017
Bị đơn là Công ty Đ2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Văn N vắng mặt mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đã phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015 trong quá trình giải quyết vụ án, cụ thể:
Thẩm phán xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho nguyên đơn, bị đơn và Viện Kiểm sát đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 181 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015; Thẩm phán tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đúng theo quy định tại Điều 209, 210, 211 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015; Thẩm phán đã gửi hồ sơ vụ án và quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát nghiên cứu và tham gia phiên tòa theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015. Thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký
Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Việc chấp hành pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng
Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật; bị đơn, người đại diện, người liên quan đã được triệu tập nhưng vắng mặt, không có ý kiến về yêu cầu của nguyên đơn.
Về nội dung: Quan điểm của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của đương sự và căn cứ vào các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 164, Điều 166, Điều 221, Điều 275, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm năm 2015, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền, thời hiệu giải quyết vụ án và thủ tục xét xử:
- Về quan hệ tranh chấp: Xét nội dung khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án xác định đây là vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ”.
- Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có trụ sở tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố
7
Thủ Đức theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; các khoản 1, 3 Điều 36 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về thời hiệu khởi kiện: Thời hiệu khởi kiện vụ án vẫn còn theo quy định tại các Điều 184 và 185 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 429 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về thủ tục xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng dân sự gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đương sự, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Thông báo về phiên hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn là Công ty Đ2, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Văn N theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nhưng công ty Đ2 và ông Lê Văn N vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về yêu cầu của nguyên đơn:
[2.1] Xét yêu cầu của bà Phạm Thị Đ1 yêu cầu chấm dứt hợp đồng dịch vụ số 68/HĐ-DV/HTN17 ngày 11/11/2017 và yêu cầu buộc công ty Đ2 cùng ông Lê Văn N liên đới trả lại số tiền 3.750.000.000 đồng.
Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, lời trình bày của các đương sự có cơ sở xác định vào ngày 11/11/2017, bà Phạm Thị Đ1 và Công ty Đ2 ký hợp đồng dịch vụ số 68/HĐ-DV/HTN17 với các nội dung: Công ty sẽ tư vấn phương án tách thửa đất nông nghiệp, lập thủ tục tách thửa, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, xin giấy phép cơ sở hạ tầng, phân lô, ... cho thửa đất 2121 tờ bản đồ số 04 (TL 02), tại địa chỉ số G Đ, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh do bà Đ1 đứng tên; tổng giá trị hợp đồng: 12.500.000.000 đồng, chia làm 04 đợt thanh toán; thời gian thực hiện: 105 ngày không bao gồm các ngày nghỉ lễ, thứ 7, chủ nhật.
Các tiến độ thực hiện Hợp đồng: Đợt 1: tách thửa ra sổ đất nông nghiệp (30 ngày); Đợt 2: chuyển mục đích sử dụng đất (21 ngày); Đợt 3: xin giấy phép duyệt cơ sở hạ tầng (30 ngày); Đợt 4: đánh giá tác động môi trường (3 ngày); Đợt 5: cắm mốc ranh, tách sổ (21 ngày). Như vậy giữa bà Đ1 và công ty P “hợp đồng dịch vụ” theo quy định tại Điều 513 Bộ luật Dân sự 2015. Quá trình thực hiện Hợp đồng, bà Đ1 đã chuyển tạm ứng đợt 1 là 3.750.000.000 đồng vào tài khoản của ông Lê Văn N.
Theo các văn bản giữa bà Đ1 và công ty T3 quá trình thực hiện Đợt 1, công ty đã vi phạm thời hạn theo thỏa thuận (công ty chấp nhận chịu phạt 5.000.000 đồng/ ngày). Bà Đ1 không cung cấp được “văn bản thay đổi quy hoạch 2000”. Như vậy, 2 bên đều có lỗi trong quá trình thực hiện Hợp đồng.
Công văn phúc đáp số 7256/CNTPTĐ ngày 09/5/2024 của văn phòng Đ3 chi nhánh thành phố T trả lời xác minh: ngày 15/11/2017 chi nhánh Q (nay là thành phố T) tiếp nhận Hồ sơ do công ty Đ4 lập theo hợp đồng với bà Phạm Thị Đ1 để phục vụ cho mục đích thực hiện thủ tục tách thửa đối với thửa đất 2121 tờ bản đồ số 04 (TL 02), phường P. Lý do hồ sơ của bà Đ1 không được phê duyệt là:
- Vị trí đất thuộc quy hoạch đất Giáo dục 1/2000 chỉnh trang khu dân cư.
8
- Theo bản vẽ thì bà Đ1 xin tách thành 10 thửa, hình thể kích thước của bản vẽ tách thửa của toàn khu đất có dạng tách thửa đất nông nghiệp chừa đường giao thông.
- Căn cứ văn bản 5306/TNMT-VP ngày 07/6/2016, thông báo số 56/TB-VP ngày 29/3/2017 của VP HĐNH và UBND Quận: “Về tách thửa nông nghiệp trong thời gian chờ UBND Thành phố ban hành quy định về hạn mức tách thửa đất nông nghiệp ...”.
- Ngày 05/12/2017, Ủy ban nhân dân Thành phố H ban hành Quyết định số 60 quy định diện tích tối thiểu được tách thửa.
Từ những phân tích trên, nhận thấy quá trình thực hiện Hợp đồng Đợt 1 thì cả 02 bên đều có lỗi, việc không thực hiện được công việc Đợt 1 có một phần lý do là do phải chờ Ủy ban nhân dân Thành phố H ban hành quy định mới về điều kiện tách thửa đất.
Đã hết thời hạn thực hiện các công việc của các Đợt, bà Đ1 cũng không liên lạc được với Công ty để tiếp tục Hợp đồng theo quy định tại Điều 521 Bộ luật Dân sự 2015. Do đó bà Đ1 yêu cầu chấm dứt Hợp đồng là có cơ sở, các bên trả lại cho nhau những gì đã nhận. Số tiền 3.750.000.000 đồng Đợt 1, bà Đ1 chuyển vào tài khoản cá nhân của ông Lê Văn N (đại diện pháp luật của Công ty Đ2) nên bà Đ1 yêu cầu Công ty Đ2 và ông N liên đới trả tiền số tiền mà bà Đ1 đã chuyển vào tài khoản của ông Nhân
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Phạm Thị Đ1.
[3] Về quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy có căn cứ nên ghi nhận.
[4] Về quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên đã trình bày tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án.
[5] Về án phí:
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm, nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch số tiền là 107.000.000 đồng (Một trăm lẻ bảy triệu đồng)
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 1 và Điều 2 Nghị quyết số: 103/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015 của Quốc Hội về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; các khoản 1 Điều 36 ; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều 48, 144, 147, 184, 227, 228, 232, 235, 266, 267, 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 164, Điều 166, Điều 221, Điều 275, Điều 357, Điều 468 Bộ Luật dân sự năm 2015;
9
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Áp dụng Luật Thi hành án dân sự;
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn – Bà Phạm Thị Đ1:
- Chấm dứt Hợp đồng dịch vụ số 68/HĐ – DV/HTN17, ngày 11/11/2017 giữa bà Phạm Thị Đ1 và Công ty TNHH MTV Đ2;
- Buộc Công ty TNHH MTV Đ2 và ông Lê Văn N liên đới hoàn trả lại toàn bộ số tiền đã nhận của bà Phạm Thị Đ1 để thực hiện Hợp đồng dịch vụ số 68/HĐ – DV/HTN17 với số tiền là: 3.750.000.000 đồng (Ba tỷ bảy trăm năm mươi triệu đồng), trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Thi hành án tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
2. Về án phí:
Công ty TNHH MTV Đ2 và ông Lê Văn N phải nộp số tiền án phí là: 107.000.000 đồng (Một trăm lẻ bảy triệu đồng).
H lại cho Bà Phạm Thị Đ1 số tiền 53.500.000đ (Năm mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0007387 ngày 16/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 9 (nay là Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
3. Về quyền kháng cáo và việc thi hành bản án:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.
10
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Xuân Dũng |
11
Bản án số 151/2025/DS-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Số bản án: 151/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dịch vụ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng dịch vụ về tư vấn đất đai
