|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
||
|
|||
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Đức.
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Phận;
Ông Huỳnh Ngọc Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Phiên – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 559/2024/TLPT-DS ngày 28 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 161/2024/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2025/QĐ-PT ngày 14 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 563/2025/QĐPT-DS ngày 13 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
- Huỳnh Thành C, sinh năm 1987;
- Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1991;
- Cùng nơi cư trú: Ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo uỷ quyền của Huỳnh Thành C và Nguyễn Thị Mỹ L:
- - Trần Quang K, sinh năm 1996; (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Nơi thường trú: 7D, Khu phố C, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre;
- - Ngô Nhật T, sinh năm 1995; (Có mặt)
- Nơi thường trú: Ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang;
- Cùng địa chỉ liên hệ: 118E3, Đường số C, khu dân cư S, khu phố M, Phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Huỳnh Thành C và Nguyễn Thị Mỹ L:
- - Luật sư Nguyễn Thị M – Luật sư của Công ty L1 - CHI NHÁNH MIỀN TÂY thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. (Có mặt)
- - Luật sư Nguyễn Văn T1 – Luật sư của Công ty L1 - CHI NHÁNH MIỀN TÂY thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B. (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn:
- Huỳnh Văn Y, sinh năm 1971;
- Nguyễn Thị H, sinh năm 1977;
- Cùng nơi cư trú: Ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo uỷ quyền của Huỳnh Văn Y và Nguyễn Thị H: Nguyễn Tiến D, sinh năm 1962. Địa chỉ: A, Khu phố D, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
Do có kháng cáo của: Huỳnh Văn Y, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm;
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Thành C và bà Nguyễn Thị Mỹ L, lời khai trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là anh Ngô Nhật T trình bày:
Vào ngày 26/4/2023 tại nhà số C ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Bến Tre, ông Huỳnh Thành C và ông Huỳnh Văn Y, bà Nguyễn Thị H đã lập hợp đồng đặt cọc đối với tài sản là quyền sử dụng đất thuộc một phần thửa đất 499, tờ bản đồ số 1, diện tích 500 m², tại ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Bến Tre, giá chuyển nhượng là 600.000.000 đồng và số tiền đặt cọc là 200.000.000 đồng, ông C đã giao đủ tiền cọc cho ông Y, bà H. Hai bên thoả thuận đến ngày 27 tháng 8 năm 2023, hai bên cùng có trách nhiệm thực hiện thủ tục chuyển nhượng và phía ông C sẽ giao tiếp số tiền còn lại. Sau đó, theo yêu cầu của ông Y, ông C có giao thêm cho ông Y số tiền 200.000.000 đồng, tổng cộng đã giao 400.000.000 đồng.
Tuy nhiên, kể từ ngày ký hợp đồng đặt cọc cho đến trước khi khởi kiện, nguyên đơn đã nhiều lần yêu cầu nhưng bị đơn không thực hiện thủ tục chuyển nhượng phần đất theo thoả thuận nên nay nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Y, bà H có nghĩa vụ liên đới trả lại số tiền cọc là 400.000.000 đồng và chịu phạt cọc số tiền là 800.000.000 đồng.
Tại phiên tòa:
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn xác nhận số tiền phía ông C đã giao cho ông Y, bà H là 400.000.000 đồng, gồm: 200.000.000 đồng là tiền đặt cọc theo hợp đồng ngày 26/4/2023 và số tiền 200.000.000 đồng còn lại là tiền chuyển nhượng đất đưa trước. Nay nguyên đơn không đồng ý tiếp tục nhận chuyển nhượng phần đất trên nữa vì hết thời hạn thoả thuận đã lâu mà hai bên không tiến hành được việc ký hợp đồng, đồng thời yêu cầu ông Y, bà H có nghĩa vụ liên đới trả lại số tiền cọc 200.000.000 đồng và tiền chuyển nhượng đất đưa trước 200.000.000 đồng, xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền phạt cọc 800.000.000 đồng.
Bị đơn ông Huỳnh Văn Y trình bày trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên toà như sau:
Ông và vợ là bà Nguyễn Thị H có ký hợp đồng đặt cọc với ông Huỳnh Thành C để chuyển nhượng diện tích đất 500 m² thuộc một phần thửa đất số 499, tờ bản đồ số 1, tại ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Bến Tre cho ông C với giá là 600.000.000 đồng, số tiền đặt cọc là 200.000.000 đồng, sau đó ông C đưa thêm 200.000.000 đồng, tổng cộng vợ chồng ông đã nhận là 400.000.000 đồng. Theo thoả thuận, đến ngày 27/8/2023, hai bên cùng nhau lập thủ tục chuyển nhượng phần đất trên. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa thực hiện được vì chưa đo đạc tách thửa đối với phần diện tích 500 m² mà các bên thoả thuận. Ông Y có đề nghị ông C ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và vào quản lý, sử dụng đất trước, khi nào tách thửa được sẽ hoàn tất thủ tục chuyển quyền sau nhưng ông C không chịu. Từ trước đến nay, vợ chồng ông vẫn giữ nguyên ý kiến chuyển nhượng đất cho ông C chứ không có ý huỷ hợp đồng nên vợ chồng ông không đồng ý trả lại số tiền. Ông cũng không muốn ông C bị mất tiền cọc mà chỉ yêu cầu ông C phải tiếp tục nhận chuyển nhượng đất như đã thoả thuận.
Sau khi hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 161/2024/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre đã tuyên:
Căn cứ vào các điều 328, 468 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào các điều 147, 217, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 27, 37 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Thành C và bà Nguyễn Thị Mỹ L về việc buộc ông Huỳnh Văn Y và bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ liên đới chịu phạt cọc số tiền là 800.000.000 (tám trăm triệu) đồng.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Thành C và bà Nguyễn Thị Mỹ L. Buộc ông Huỳnh Văn Y và bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ liên đới trả lại cho ông Huỳnh Thành C và bà Nguyễn Thị Mỹ L số tiền đặt cọc để nhận chuyển nhượng một phần thửa đất số 499, tờ bản đồ số 1, có diện tích 500 m², tại ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Bến Tre là 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng và số tiền chuyển nhượng đất đưa trước là 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng.
Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định số 45/2024/QĐ-BPKCTT ngày 22 tháng 7 năm 2024 và Quyết định sửa chữa, bổ sung quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2024/QĐ-SCBSQĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong toả tài sản của người có nghĩa vụ” quy định tại khoản 11 Điều 114 và Điều 126 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, lãi chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 04/10/2024, ông Huỳnh Văn Y có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, buộc ông Huỳnh Thành C và bà Nguyễn Thị Mỹ L phải tiếp tục nhận chuyển nhượng phần đất và đồng ý giao thêm 50 m² để đủ diện tích tách thửa theo quy định.
Ngày 17/10/2024, ông Huỳnh Văn Y có đơn kháng cáo bổ sung yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn là ông Nguyễn Tiến D trình bày: Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu nguyên đơn phải tiếp tục nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông Ngô Nhật T trình bày: Nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Huỳnh Văn Y, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị M trình bày: Theo hợp đồng đặt cọc, các bên thỏa thuận kể từ ngày ký hợp đồng cho đến ngày 27/8/2023, hai bên lập thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, sau đó gia hạn cho đến ngày 12/3/2024 nhưng vẫn không thực hiện được, nguyên nhân do bị đơn không tách thửa được phần diện tích 500m² thuộc một phần thửa 499 để chuyển nhượng cho ông C bởi vì bị đơn tranh chấp ranh với chủ sử dụng đất liền kề. Nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Huỳnh Văn Y, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định của pháp luật tố tụng.
- - Về nội dung: Căn cứ quy định khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Huỳnh Văn Y; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét kháng cáo của bị đơn Huỳnh Văn Y, đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Bị đơn Huỳnh Văn Y có kháng cáo, đã thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ và trong thời hạn luật định nên yêu cầu kháng cáo được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Tại phiên toà, ông Trần Quang K là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn và ông Nguyễn Văn T1 là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt ông Trần Quang K và ông Nguyễn Văn T1.
[2] Về nội dung:
Nguyên đơn ông C và bà L yêu cầu ông Y, bà H có nghĩa vụ liên đới trả lại số tiền cọc 400.000.000 đồng và chịu phạt cọc số tiền là 800.000.000 đồng. Tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu ông Y, bà H liên đới trả lại số tiền 400.000.000 đồng (gồm: 200.000.000 đồng là tiền đặt cọc theo hợp đồng ngày 26/4/2023 và 200.000.000 đồng còn lại là tiền chuyển nhượng đất đưa trước), xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền phạt cọc là 800.000.000 đồng.
Bị đơn ông Y và bà H không đồng ý trả lại cho ông C và bà L số tiền 400.000.000 đồng (gồm: 200.000.000 đồng là tiền đặt cọc theo hợp đồng ngày 26/4/2023 và 200.000.000 đồng còn lại là tiền chuyển nhượng đất đưa trước), yêu cầu ông C phải tiếp tục nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất như đã thoả thuận.
Xét kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Vào ngày 26/4/2023, tại nhà số C, ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Bến Tre, ông Huỳnh Thành C và ông Huỳnh Văn Y, bà Nguyễn Thị H đã lập hợp đồng đặt cọc (không có công chứng, chứng thực) để nhằm đảm bảo việc giao kết, thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có diện tích 500m², chiều ngang 10m, chiều dài 50m thuộc một phần thửa đất số 499, tờ bản đồ số 1, tại ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Bến Tre theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM136465 số vào sổ cấp GCN: H00966 do Ủy ban nhân dân huyện M (nay là huyện M) cấp vào ngày 20/02/2008 cho ông Huỳnh Văn Y. Hai bên thoả thuận giá chuyển nhượng là 600.000.000 đồng và số tiền đặt cọc là 200.000.000 đồng. Ông C đã giao 200.000.000 đồng cho ông Y, bà H. Sau khi hoàn thành thủ tục chuyển quyền theo quy định pháp luật thì số tiền đặt cọc nêu trên được cấn trừ vào tiền chuyển nhượng đất và ông C có nghĩa vụ giao tiếp số tiền chuyển nhượng đất còn lại là 400.000.000 đồng. Kể từ ngày ký hợp đồng đặt cọc cho đến ngày 27/8/2023, hai bên có trách nhiệm cùng nhau lập thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật. Chứng cứ chứng minh do nguyên đơn cung cấp là hợp đồng đặt cọc đề ngày 26/4/2023 (không có công chứng, chứng thực), trong đó các bên thống nhất thừa nhận các nội dung thỏa thuận nêu trên. Đến ngày 09/7/2023 âm lịch (24/8/2023 dương lịch), ông C tiếp tục giao cho ông Y 200.000.000 đồng là tiền chuyển nhượng đất đưa trước. Tổng cộng tại sơ thẩm ông Y và bà H thừa nhận đã nhận số tiền 400.000.000 đồng (gồm 200.000.000 đồng là tiền đặt cọc theo hợp đồng ngày 26/4/2023 và 200.000.000 đồng còn lại là tiền chuyển nhượng đất đưa trước) của ông C. Đây là các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2.2] Hợp đồng đặt cọc ngày 26/4/2023 (không có công chứng, chứng thực) được ký kết giữa ông Huỳnh Thành C và ông Huỳnh Văn Y, bà Nguyễn Thị H là tự nguyện, hình thức hợp đồng và chủ thể giao kết hợp đồng phù hợp với giao dịch, mục đích và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên hợp đồng có hiệu lực, phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng.
[2.3] Xét quá trình thực hiện hợp đồng đặt cọc ngày 26/4/2023: Theo hồ sơ vụ án, các bên đã yêu cầu đo đạc tách thửa đối với diện tích 500m² để sau đó ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông C. Lần đo đạc thứ nhất không thực hiện được do không có chủ sử dụng đất liền kề ký xác nhận ranh. Đến ngày 09/7/2023 âm lịch (tức 24/8/2023 dương lịch), ông C giao cho ông Y số tiền 200.000.000 đồng là tiền chuyển nhượng đất đưa trước để ông Y có chi phí thực hiện thủ tục tách thửa lần hai. Ông Y đã liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để yêu cầu đo đạc tách thửa 500m² nhưng vẫn không được do vấn đề ranh với thửa đất liền kề. Ông C biết và đồng ý cho gia hạn đến ngày 12/3/2024 để ông Y thực hiện tách thửa, tuy nhiên đã hết thời hạn nhưng việc tách thửa chưa thực hiện được. Hội đồng xét xử nhận thấy:
Tại Điều 3 của Hợp đồng đặt cọc, các bên thỏa thuận kể từ ngày ký hợp đồng đặt cọc ngày 26/4/2023 cho đến ngày 27/8/2023, hai bên có trách nhiệm cùng nhau lập thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, thỏa thuận không thực hiện được do hết ngày 27/8/2023 mà ông Y không thực hiện được tách thửa phần diện tích 500m² thuộc một phần thửa 499 để chuyển nhượng cho ông C. Mặc dù đã thỏa thuận gia hạn cho đến ngày 12/3/2024 nhưng hết hạn ông Y vẫn không tách thửa được. Công văn số 1076/CNMCN-TTLT ngày 04/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đ, tỉnh Bến Tre cho biết: Ngày 14/12/2023, Chi nhánh Văn phòng Đ có nhận được hồ sơ đo đạc tách thửa, hợp thửa của ông Huỳnh Văn Y đối với thửa đất 499. Trong quá trình giải quyết hồ sơ, ông Y không thống nhất được ranh giới, mốc giới với chủ sử dụng đất liền kề. Ngày 21/02/2024, hồ sơ đo đạc của ông Y được trả lại. Như vậy có căn cứ xác định nguyên nhân dẫn đến việc không thực hiện tách thửa được do ông Y không thống nhất ranh. Ông Y đồng ý ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và cho ông C quản lý, sử dụng đất trước, khi tách thửa được sẽ hoàn tất thủ tục chuyển quyền sau, tuy nhiên ông C không đồng ý. Xét thấy, trường hợp nếu không tách thửa được đối với phần diện tích sẽ chuyển nhượng thì dù các bên có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng không đủ điều kiện để Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng, nếu chỉ sử dụng đất mà không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên nhận chuyển nhượng không có được đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định pháp luật. Ông Y cho rằng khi tách thửa được sẽ hoàn tất thủ tục chuyển quyền cho ông C, tuy nhiên việc tách thửa còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tiến trình thực hiện của cơ quan có thẩm quyền và quy định pháp luật hiện hành mà các bên không tự mình định đoạt được, ông Y cũng không có căn cứ xác định đến khi nào thì tách thửa được trong khi hiện tại ông Y còn chưa thống nhất được ranh thửa đất. Do đó, xét việc ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của ông C.
Quá trình thực hiện hợp đồng đặt cọc, ông C đã có thiện chí thể hiện ý chí mong muốn nhận chuyển nhượng phần đất trên như giao trước một phần tiền chuyển nhượng là 200.000.000 đồng để tạo điều kiện cho ông Y có chi phí thực hiện thủ tục tách thửa lần hai, đồng ý cho gia hạn thời gian ký hợp đồng chuyển nhượng đến ngày 12/3/2024 để ông Y hoàn tất tách thửa. Tại toà, người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn cho rằng các bên có thoả thuận miệng rằng ông C chịu trách nhiệm thực hiện tách thửa 499, việc không tách thửa được do lỗi cố ý của ông C không muốn nhận chuyển nhượng phần đất nữa, tuy nhiên ông C không thừa nhận và phía bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh sự thoả thuận của các bên nói trên nên lời trình bày của phía bị đơn là không có cơ sở.
[2.4] Tại toà, người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn cung cấp đơn xin xác nhận của ông Huỳnh Văn Y, có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Bến Tre để chứng minh trên thửa 499 có căn nhà ở của bị đơn. Phía bị đơn xác định phần diện tích 500m² mà các bên thoả thuận đặt cọc có một căn nhà ở của bị đơn trên đất và các bên đã có thoả thuận miệng là ông Y, bà H phải phá dỡ căn nhà để giao đất cho ông C, tuy nhiên Toà án sơ thẩm chưa xem xét, giải quyết nội dung này là thiếu sót. Hội đồng xét xử xét thấy, phía bị đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh về việc các bên thoả thuận phá dỡ căn nhà trên đất của bị đơn để giao đất chuyển nhượng cho ông C trong khi nguyên đơn không thừa nhận; hợp đồng đặt cọc ngày 26/4/2023 đã ký giữa các bên không đề cập đến thoả thuận về căn nhà trên đất, không xác định vị trí đất cụ thể của phần diện tích 500 m² mà các bên thoả thuận đặt cọc để chuyển nhượng cho ông C, do đó Hội đồng xét xử không có cơ sở để xác định trên phần diện tích 500m² có căn nhà của bị đơn nên không xét đến.
Mặc dù thời gian đã lâu, đã tạo điều kiện để tiếp tục thực hiện hợp đồng đặt cọc nhưng không tách thửa được để ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định cho ông C nên việc ông C không đồng ý tiếp tục nhận chuyển nhượng phần diện tích 500m² thuộc một phần thửa 499 và yêu cầu ông Y, bà H trả lại số tiền đặt cọc 200.000.000 đồng là chính đáng. Do không ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên số tiền chuyển nhượng 200.000.000 đồng mà ông C đưa trước cho ông Y cũng cần phải trả lại cho ông C. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn Huỳnh Văn Y là không có cơ sở, đương sự không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Huỳnh Văn Y; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Do yêu cầu kháng cáo của bị đơn Huỳnh Văn Y không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Huỳnh Văn Y.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 161/2024/DS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.
Căn cứ vào các điều 147, 217, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 328, 468 Bộ luật Dân sự; các điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Q;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Thành C và bà Nguyễn Thị Mỹ L.
Buộc ông Huỳnh Văn Y và bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ liên đới trả lại cho ông Huỳnh Thành C và bà Nguyễn Thị Mỹ L số tiền là 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng) gồm: 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng) là tiền đặt cọc để nhận chuyển nhượng một phần thửa đất số 499, tờ bản đồ số 1, diện tích 500m², tại ấp T, xã M, huyện M, tỉnh Bến Tre và 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng) là số tiền chuyển nhượng đất đưa trước.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Tiếp tục biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 45/2024/QĐ-BPKCTT ngày 22/7/2024 và Quyết định sửa chữa, bổ sung quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2024/QĐ-SCBSQĐ ngày 26/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời “Phong toả tài sản của người có nghĩa vụ” quy định tại khoản 11 Điều 114 và Điều 126 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
3. Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Thành C, bà Nguyễn Thị Mỹ L về việc buộc ông Huỳnh Văn Y và bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ liên đới chịu phạt cọc số tiền 800.000.000đ (tám trăm triệu đồng).
4. Về chi phí tố tụng:
Ông Huỳnh Văn Y và bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ liên đới chịu số tiền là 122.000đ (một trăm hai mươi hai nghìn đồng). Buộc ông Huỳnh Văn Y và bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Huỳnh Thành C và bà Nguyễn Thị Mỹ L số tiền 122.000đ (một trăm hai mươi hai nghìn đồng).
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Huỳnh Văn Y và bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ liên đới nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).
Hoàn trả cho ông Huỳnh Thành C và bà Nguyễn Thị Mỹ L số tiền tạm ứng án phí đã nộp gồm: 5.000.000đ (năm triệu đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0005273 ngày 22/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam; 10.000.000đ (mười triệu đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0005272 ngày 22/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam và 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0003966 ngày 01/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.
6. Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Huỳnh Văn Y phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0003780 ngày 07/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Ông Huỳnh Văn Y đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Huỳnh Ngọc Dũng | Lê Văn Phận | Nguyễn Chí Đức |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Đức |
Bản án số 151/2025/DS-PT ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 151/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
