Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN THAN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 151/2024/HSST

Ngày 27/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Trung Phước

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Khánh Ly; Ông Đinh Công Vương.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Duy Thế - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên tòa: Ông Tòng Văn Thức- Kiểm sát viên.

Ngày 27/9/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, thụ lý số 157/2024/TLST-HS ngày 16/9/2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 157/2024/QĐXXST-HS ngày 16/9/2024 đối với bị cáo: Họ và tên: ĐOÀN VĂN Q; Giới tính: Nam; Sinh ngày 01/9/1976, tại T - Lai Châu; Nơi cư trú: bản Ngã Ba, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể: không; Con ông Đoàn Văn N, sinh năm 1950 và bà Phạm Thị H, sinh năm 1952; Gia đình bị cáo có 04 anh, em; bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo có vợ là Lường Thị Minh P (không xác định được năm sinh), đã ly hôn năm 2018; hiện cư trú tại bản X, xã M, huyện Q, tỉnh Sơn La và 01 người con, sinh năm 2017; Tiền án: Ngày 17/5/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu tuyên phạt 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 07/8/2023; chưa được xóa án tích; Tiền sự: không.

Về nhân thân: Ngày 25/12/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu tuyên phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đã được xóa án tích.

Ngày 24/4/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu tuyên phạt 42 tháng tù về tội “Tàng tữ trái phép chất ma túy”, đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 22/6/2024, tạm giam từ ngày 28/6/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện T cho đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ ngày 22/6/2024, Đoàn Văn Q đi xe ôm của một người đàn ông (không rõ lai lịch) từ bản Ngã Ba, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu đến bản N, xã P, huyện T, mục đích tìm mua Heroine sử dụng. Khi đến bản Noong Thăng, Q bảo người lái xe ôm đợi ở ngoài đường, còn Q đi bộ vào trong bản Noong Thăng mua của một người phụ nữ (không rõ lai lịch) 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh ni lon màu trắng) với số tiền 150.000 đồng. Mua được H1, Q cầm trong lòng bàn tay phải đi ra chỗ người lái xe ôm đang ngồi đợi rồi tiếp tục đi xe ôm về đến bản Lướt, xã M, huyện T thì Q xuống xe đi bộ về nhà. Đến hồi 10 giờ 45 phút cùng ngày, khi Đoàn Văn Q đi bộ về đến bản Là 2, xã M, huyện T thì gặp tổ công tác Công an huyện T đang làm nhiệm vụ. Do sợ hành vi phạm tội của mình bị Công an phát hiện, Đoàn Văn Q đã thả gói Heroine đang cầm trên tay phải xuống đất nhằm tiêu hủy chứng cứ thì bị tổ công tác Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang. Đoàn Văn Q đã tự giác nhặt 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh ni lon màu trắng) lên giao nộp cho Công an huyện T.

Tại Kết luận giám định số 67/KLGĐ, ngày 22/6/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc và Kết luận giám định số 838/KL-KTHS ngày 27/6/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: “số chất bột màu trắng thu giữ của Đoàn Văn Q có khối lượng 0,43 gam; là ma túy, loại: Heroine (Heroin)”.

Vật chứng: 0,43 gam Heroine, Cơ quan điều tra đã trích gửi giám định 0,09 gam, còn lại 0,34 gam; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu, hiện số vật chứng còn lại của vụ án đang được bảo quản theo quy định.

Cáo trạng số 116/CT-VKS ngày 16/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, truy tố bị cáo Đoàn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án về thời gian và địa điểm phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đoàn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38/Bộ luật hình sự, đề nghị tuyên phạt Đoàn Văn Q từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung và buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47/Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106/Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu 0,34 gam Heroine còn lại; 01 mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu để tiêu hủy.

Lời nói sau cùng: Bị cáo Đoàn Văn Q xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người tiến hành tố tụng khác đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đối với vụ án theo quy định tại các Điều 17, Điều 19, Điều 20, Điều 34, Điều 36, Điều 37, Điều 41, Điều 42/Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

  2. Về hành vi phạm tội và cấu thành tội phạm: Vào hồi 10 giờ 45 phút ngày 22/6/2024, tại bản Là 2, xã M, huyện T, Đoàn Văn Q đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,43 gam nhằm mục đích sử dụng, thì bị Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang. Hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/Bộ luật hình sự.

  3. Về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi bị cáo Đoàn Văn Q thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Ma tuý đang là nỗi nhức nhối trong đời sống xã hội, và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó mọi hành vi phạm tội liên quan tới ma tuý cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

  4. Về mục đích phạm tội của bị cáo: Đoàn Văn Q là đối tượng nghiện chất ma túy, mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy là để phục vụ nhu cầu sử dụng chất ma túy của bản thân bị cáo.

  5. Về nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đoàn Văn Q được sinh ra trong gia đình lao động, nhưng không tu dưỡng, rèn luyện mà lại ăn chơi, đua đòi dẫn đến bị nghiện chất ma túy. Để có ma túy thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, chưa được xoá án tích và có nhân thân xấu (đã 02 lần bị kết án đều về các hành vi liên quan đến ma tuý) nhưng không lấy làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Điều này thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo. Như vậy nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố hành vi phạm tội và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ chấp nhận. Cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp để bị cáo có điều kiện cải tạo, cai nghiện trở thành người có ích.

    Tuy nhiên quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, vì vậy Hội đồng xét xử cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51/Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

    Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội trong thời gian chưa được xoá án tích, vì vậy phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

    Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249/Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

  6. Về vật chứng: Đối 0,43 gam Heroine, Cơ quan điều tra đã trích gửi giám định 0,09 gam không hoàn lại nên Hội đồng xét xử không xem xét, số Heroine còn lại là 0,34 gam là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; 01 mảnh nilon màu trắng và 01 vỏ bì niêm phong vật chứng ban đầu, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.

  7. Vấn đề liên quan trong vụ án: Về nguồn gốc Heroine, Đoàn Văn Q khai mua của một người phụ nữ không rõ lai lịch tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

  8. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

  9. Về biện pháp ngăn chặn: Cần tiếp tục áp dụng biện pháp Tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47/Bộ luật hình sự; Điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333/Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23/Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/6/2024. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

  3. Về vật chứng: Tịch thu 0,34 gam gam Heroine còn lại, 01 mảnh nilon màu trắng và 01 vỏ bì niêm phong vật chứng ban đầu để tiêu hủy.

    Các vật chứng, đồ vật nêu trên đang được bảo quản, lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên. Tình trạng, đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/9/2024 giữa Cơ quan CSĐT - Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên.

  4. Về án phí: Bị cáo Đoàn Văn Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà án ND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp Lai Châu;
  • - VKSND cùng cấp;
  • - Chi cục THADS cùng cấp;
  • - Nhà TG, Cơ quan THAHS, Cơ quan CSĐT Công an huyện Than Uyên;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đoàn Trung Phước

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 151/2024/HSST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về vụ án hình sự (tàng trữ trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 151/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đoàn Văn Q có nhân thân xấu, tàng trữ trái phép CMT để sử dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger