Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 151/2024/HSST

Ngày: 15-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Hữu Bình
  • Các hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Văn Kha
  • Ông Đào Xuân Nhi
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Thùy – Thư ký Tòa án.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Dũng – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 128/2024/HSST ngày 17 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 169/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 và thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 06/TB-TA ngày 06/11/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Đào Nhật T, tên gọi khác: không, sinh năm 2004 tại Bình Phước; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đào Văn V, sinh năm 1979 (còn sống) và bà Nguyễn Bảo T1, sinh năm 1988 (Còn sống); Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo được tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Công ty Cổ phần D.

Địa chỉ: 4 X, phường B, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Ông Lương Duy H – CV: Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Bích V1 – SN: 1991; Trú tại: Khu phố E, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

Người làm chứng: Anh Nguyễn Quốc T2 – SN: 1996: Trú tại: Thôn P, xã P, thị xã P, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 17/10/2022, Đào Nhật T ký hợp đồng lao động với Công ty cổ phần D, địa chỉ 4 X, phường B, quận B, thành phố Hồ chí Minh. Địa điểm làm việc Công ty cổ phần D – Chi nhánh B (viết tắt C), địa chỉ kho: Quốc lộ A, tổ B, Khu phố X, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Quá trình làm việc, T được CTCP DV GHN cấp mã nhân viên “3040802” và tài khoản giao hàng trên ứng dụng “Tài xế M-PDS” của công ty (app này tải từ google, được đăng ký bằng số điện thoại của nhân viên giao hàng để bảo mật), ID đăng nhập là mã nhân viên. T được công ty phổ biến quy định về việc giao, nhận hàng cho khách hàng và thu tiền từ khách hàng (được gọi là tiền COD) để nộp lại cho công ty, cụ thể:

Buổi sáng nhân viên giao hàng đến kho của công ty để nhận hàng đi giao cho khách hàng. Khi đến kho, nhân viên giao hàng được nhân viên kho mở bao hàng đổ hàng ra và nhân viên kho quét mã code đơn hàng nhập vào hệ thống (app) quản lý hàng hóa của công ty. Sau đó, nhân viên giao hàng phân chia hàng theo từng tuyến giao hàng cho từng nhân viên bưu tá theo từng sọt hàng. Nhân viên kho tiếp tục quét mã code của từng đơn hàng mà nhân viên giao hàng đã nhận lên hệ thống quản lý giao hàng của công ty để giao cho nhân viên giao hàng (giao đồng kiểm ký kết giữ các bên). Nhân viên giao hàng tiếp tục đăng nhập vào tài khoản giao hàng của mình trên app của công ty để đối chiếu tổng các đơn hàng đã nhận với thực tế các đơn hàng, nếu đúng số lượng thì nhân viên giao hàng tiến hành đi giao cho khách hàng.

Sau đó, nhân viên giao hàng gọi điện thoại thông báo cho các khách hàng để giao hàng và di chuyển bằng phương tiên giao thông cá nhân. Khi gặp được khách hàng, nhân viên giao hàng kiểm tra thông tin của người nhận hàng, nếu trùng khớp thông tin thì tiến hành giao hàng và thu tiền theo giá ghi trên đơn hàng (đối với đơn hàng yêu cầu thu hộ), cập nhật trạng thái “giao thành công” lên app và tiếp tục đi giao các đơn hàng khác. Đối với các trường hợp nhân viên giao hàng gọi điện thoại 03 (ba) lần mà không giao được hàng thì cập nhật trạng thái “giao thất bại” lên app, cuối ngày trả lại hàng cho nhân viên kho để hôm sau đi giao tiếp, trong 03 (ba) ca mà không giao được thì trả hàng cho nhân viên kho. Số tiền thu được của các đơn hàng đã giao thành công, cuối ngày nhân viên giao hàng phải nộp về hoặc chuyển khoản cho nhân viên xử lý (nhân viên kho) của công ty. Các trường hợp phát sinh lỗi do bất khả kháng thì nhân viên giao hàng phải báo về cho nhân viên kho biết. Nếu trong tuyến của nhân viên giao hàng có nhân viên nghỉ thì nhân viên tuyến này đăng ký nhận hàng để giao thêm trên tuyến của mình.

Ngày 21/7/2023, Đào Nhật T đến nhận hàng tại kho của công ty để đi giao cho khách hàng với tổng số lượng 61 đơn hàng, trong đó có 55 đơn hàng có thu tiền của người nhận (thu tiền COD) và 06 đơn hàng không thu tiền COD từ anh Nguyễn Quốc T2 là quản lý khu vự kiêm trưởng bưu cục. Sau đó, T đã giao hàng và chiếm đoạt số tiền thu COD của 55 đơn hàng, cụ thể có 38 đơn hàng Trường thao tác trên app “giao thành công” trong đó 05 đơn hàng giao không thu tiền, 23 đơn hàng còn lại T không giao, không nộp tiền về lại công ty, chiếm đoạt số tiền 13.878.215 đồng (Mười ba triệu tám trăm bảy mươi tám nghìn hai trăm mười lăm đồng) và nghỉ việc. Đến 19 giờ cùng ngày, không thấy Trường quay lại để nộp tiền thu COD và trả hàng chưa giao nên anh Nguyễn Quốc T2 lập biên bản, báo về công ty số tiền bị Đào Nhật T chiếm đoạt trong chuyến giao hàng ngày 21/7/2023.

Đến ngày 16/11/2023, Công ty Cổ phần D có đơn trình báo gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ tố giác Đào Nhật T về hành vi tham ô số tiền thu COD của 55 đơn hàng ngày 21/7/2023 trị giá 13.878.215 đồng (Mười ba triệu tám trăm bảy mươi tám nghìn hai trăm mười lăm đồng).

Quá trình điều tra xác định đối với 55 đơn hàng mà Đào Nhật T đã nhận để đi giao và thu tiền COD, trong đó có 34 người mua xác nhận đã nhận hàng và trả tiền COD chuyển với tổng số tiền là 9.347.399 đồng (Chín triệu ba trăm bốn mươi bảy nghìn ba trăm chín mươi chín đồng); 12 đơn hàng khách hàng không nhận được đơn hàng với tổng số tiền là 2.131.816 đồng (Hai triệu một trăm ba mươi mốt nghìn tám trăm mười sáu đồng); 08 đơn hàng không xác định được người đặt hàng nên không làm việc được với tổng giá trị là 1.974.000 đồng (Một triệu chín trăm bảy mươi bốn nghìn đồng) và 01 đơn hàng đang tiến hành ủy thác điều tra xác minh nơi cư trú của chủ sở hữu số điện thoại đặt hàng nhưng chưa có trả lời ủy thác, giá trị đơn hàng là 425.000 đồng (Bốn trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã được bị cáo bồi thường nên không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số: 147/CT-VKS ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đã truy tố bị cáo Đào Nhật T về tội “Tham ô tài sản” theo khoản 1 Điều 353 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 353; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đào Nhật T mức án từ 02 năm đến 02 năm 6 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 đến 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Xoài, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến và khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ nội dung phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng số 147/CT-VKS ngày 15 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài đã truy tố bị cáo.

[3]. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thấy phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, kết luận của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa thấy phù hợp với nhau về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận; Ngày 21/7/2023 Đào Nhật T là nhân viên hợp đồng của Công ty cổ phần D – Chi nhánh B đã có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao nhiệm vụ giao hàng cho khách hàng và thu tiền COD của 55 đơn hàng. Sau đó thực hiện chiếm đoạt số tiền 13.878.215 đồng (Mười ba triệu tám trăm bảy mươi tám nghìn, hai trăm mười lăm đồng) của Công ty cổ phần D - Chi nhánh B tại thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

Hành vi của bị cáo là nguy hiêm cho xã hội, đã xâm phạm đến quan hệ sở hữu và hoạt động đúng đắn của Công ty cổ phần D – Chi nhánh B. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý trực tiếp và khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Tham ô tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự như sau:

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

6. Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà tham ô tài sản, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này.

[4]. Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động của Công ty cổ phần D – Chi nhánh B. Do đó, cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân đối với bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo đã bồi thường khắc phục thiệt hại cho người bị hại số tiền 13.878.215 đồng (Mười ba triệu tám trăm bảy mươi tám nghìn, hai trăm mười lăm đồng), người đại diện của người bị hại có đơn xin bãi nại giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sữa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về nhân thân của bị cáo: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

[6]. Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Xét thấy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, chưa có tiền án tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả thiệt hại cho người bị hại, đại diện người bị hại có đơn xin bãi nại giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, xét không cần thiết phải cách ly bị cáo để giáo dục mà chỉ cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[6.1] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5, Điều 353 BLHS thì bị cáo còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy, bị cáo là lao động tự do, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo là phù hợp.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã được bồi thường và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh:

    Tuyên bố bị cáo Đào Nhật T (tên gọi khác: không) phạm tội “Tham ô tài sản”.

  2. Về hình phạt:

    Áp dụng khoản 1 Điều 353; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Đào Nhật T 02 (hai) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    T3 giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Đào Nhật T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017.

    Trường hợp bị cáo Đào Nhật T vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú, nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Về án phí:

    Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Tuyên buộc bị cáo Đào Nhật T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Bị cáo, người bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước
  • - Sở Tư pháp Tỉnh Bình Phước
  • - Phòng PV 06- Công an tỉnh Bình Phước
  • - VKSND tỉnh Bình Phước
  • - VKSND thành phố Đồng Xoài;
  • - Chi cục Thi hành án thành phố Đồng Xoài
  • - Nhà tạm giữ CA thành phố Đồng Xoài;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Hữu Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 151/2024/HSST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tham ô tài sản

  • Số bản án: 151/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tham ô tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger