Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 151/2024/HS-ST

Ngày: 27-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phơ

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hoàng Thanh Hiền
  2. Bà Đoàn Thị Thỉnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Ngọc Đức, Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trương Trần Duy An - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 158/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 634/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:

Võ Minh C (Tên gọi khác: /), sinh năm: 1972 (tại phiên toà bị cáo khai nơi sinh của bị cáo tại Thành phố Hồ Chí Minh); giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Không nơi đăng ký thường trú; nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 4/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; họ và tên cha: Võ Văn B (đã chết), họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Ú (đã chết); quá trình điều tra bị cáo khai không có vợ con, tại phiên toà bị cáo khai có vợ nhưng đã ly hôn và có một con sinh năm 1992.

Tiền án:

  • + Bản án số 335/HSPT ngày 13/4/1996, Toà án Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân”, 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”. Chưa chấp hành án phí.
  • + Bản án số 42/HSST ngày 11/5/2004, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 30 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Chưa chấp hành án phí.
  • + Bản án số 40/2009/HSST ngày 23/7/2009, Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 75/2009/HSST ngày 19/11/2009, Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xử phạt 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt chung của hai bản án là 08 năm tù. Chưa chấp hành án phí.
  • + Bản án số 62/2012/HSST ngày 25/04/2012, Tòa án nhân dân Quận 7 xử phạt 04 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp hình phạt với bản án số 75/2009/HSST ngày 19/11/2009 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh. Võ Minh C chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 12 năm tù. Chưa chấp hành án phí.

Tiền sự:

  • + Ngày 25/05/1990, bị Công an huyện N bắt lập danh chỉ bản số 6807 về việc “Gây rối trật tự công cộng”.
  • + Ngày 29/12/1993, bị Công an huyện N lập danh chỉ bản số 49 đưa đi trường giáo dưỡng, cơ sở G.

Nhân thân:

Bản án số 89/HSST ngày 12/01/1999 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/10/2023, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Nguyễn Thanh B1, sinh năm 1990; địa chỉ: A, B, T, Bình Định; chỗ ở: Số B Đường B, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 09 giờ 25 phút ngày 08/10/2023, Võ Minh C điện thoại rủ P (chưa rõ nhân thân lai lịch) đi trộm cắp. P điều khiển xe máy hiệu Wave biển số 59F1-413.97 đón C tại bệnh viện C1, cả hai đều mang theo một bộ đoản phá khóa xe. P chở C đến địa chỉ số B đường B, phường T, Quận G, phát hiện một xe máy hiệu Future, biển số 77H1-111.78 đang đậu trước cửa nhà, không có người trông coi. C dừng xe bên ngoài cảnh giới, P đi bộ đến xe máy trên, dùng bộ đoản mang theo phá khóa cổ xe và khóa công tắc nhưng P phát hiện 02 đứa bé đang chơi gần đó nên P bỏ ra ngoài, rồi dùng xe máy chở C một vòng và quay lại địa chỉ trên, C đi vào lấy trộm chiếc xe trên, P đứng bên ngoài cảnh giới, C đi đến, ngồi lên xe, lùi xe lại khoảng 01 mét, đề máy tẩu thoát thì bị người dân bắt giữ C cùng tang vật, P thấy C bị bắt thì nổ máy xe và tẩu thoát.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Võ Minh C khai nhận hành vi trộm cắp tài sản.

Kết luận định giá tài sản số 311/KL-HDĐGTTHS ngày 16/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận G, kết luận: 01 xe máy hiệu Future, biển số 77H1-111.78 đã qua sử dụng trị giá 8.250.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

  • + 01 (một) xe máy hiệu Future, biển số 77H1-111.78, số khung: RLHJC5323CY057305, số máy: JC54E0103504.
  • + 01 (một) điện thoại Samsung A50, số Imei: 356646104942834, số thuê bao: 0348800497.
  • + 01 (một) mũi đoản phá khóa hình lục giác 8mm, bằng kim loại dài khoản 7,9cm được mài dẹp một đầu.
  • + 01 (một) mũi đoản phá khóa hình lục giác 8mm, bằng kim loại dài khoản 7,5cm được mài dẹp một đầu.
  • + 01 (một) mũi đoản phá khóa hình lục giác 8mm, bằng kim loại dài khoản 5,7cm được mài dẹp một đầu.
  • + 01 (một) khóa L bằng kim loại dùng để mở ốc lục giác 8mm, dài 12,9cm.
  • + 01 (một) thành đồng phá khóa từ kèm theo nam châm dài 5cm.

Cáo trạng số 110/CT-VKSQ7 ngày 15/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố bị cáo Võ Minh C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Võ Minh C phạm tội “Trộm cắp tài sản” và áp dụng điểm g Khoản 2 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt: Võ Minh C từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù.

Đề nghị xử lý vật chứng:

Xe máy hiệu Future, biển số 77H1-111.78, số khung: RLHJC5323CY057305, số máy: JC54E0103504. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả xe lại cho bị hại đề nghị không xét.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước điện thoại Samsung A50, số Imei: 356646104942834, số thuê bao: 0348800497.

Tịch thu tiêu huỷ các công cụ gồm: 01 (một) mũi đoản phá khóa hình lục giác 8mm, bằng kim loại dài khoản 7,9cm được mài dẹp một đầu; 01 (một) mũi đoản phá khóa hình lục giác 8mm, bằng kim loại dài khoản 7,5cm được mài dẹp một đầu; 01 (một) mũi đoản phá khóa hình lục giác 8mm, bằng kim loại dài khoản 5,7cm được mài dẹp một đầu; 01 (một) khóa L bằng kim loại dùng để mở ốc lục giác 8mm, dài 12,9cm; 01 (một) thanh đồng phá khóa từ kèm theo nam châm dài 5cm.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tự bào chữa, không tranh luận, thể hiện sự ăn năn hối cải, đề nghị được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và hình phạt:

[3] Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong hồ sơ vụ án, xét có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Võ Minh C thực hiện hành vi trộm cắp chiếm đoạt tài sản là xe máy hiệu Future, màu nâu bạc xám, biển số 77H1-111.78 của bị hại, theo Kết luận định giá tài sản số 311/KL-HĐĐGTTHS ngày 16/10/2023, xe gắn máy tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị 8.250.000 (Tám triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng.

[4] Bị cáo có nhiều tiền án thuộc trường hợp tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm chưa được xóa án tích: Bản án số 335/HSPT ngày 13/4/1996 xử phạt 02 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân”, 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”; Bản án số 42/HSST ngày 11/5/2004 xử phạt 30 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Bản án số 40/2009/HSST ngày 23/7/2009 xử phạt 02 năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản”; Bản án số 75/2009/HSST ngày 19/11/2009 xử phạt 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và tổng hợp hình phạt với Bản án số 40/2009/HSST là 08 năm tù; Bản án số 62/2012/HSST ngày 25/04/2012 xử phạt 04 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tổng hợp hình phạt với Bản án 75/2009/HSST là 12 năm tù. Nên lần phạm tội này của bị cáo cấu thành tội trộm cắp tài sản thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm g Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[5] Xét bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, biết rõ trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Vì động cơ, mục đích tham lam, tư lợi lười lao động. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, đã xâm hại trực tiếp đến tài sản sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn ở địa phương, cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục cải tạo riêng và ngăn ngừa chung trong xã hội.

[6] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

[7] Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 12/01/1999 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân”. Bị cáo có hai tiền sự: Ngày 25/05/1990, bị bắt về hành vi gây rối trật tự công cộng và ngày 29/12/1993, công an huyện N đưa đi trường giáo dưỡng, cơ sở G.

[8] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[9] Xử lý vật chứng:

[10] Điện thoại Samsung A50, số Imei: 356646104942834, số thuê bao: 0348800497 thu giữ của bị cáo, bị cáo dùng để gọi rủ đối tượng tên P đi trộm cắp, nên tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[11] Các phương tiện, dụng cụ thu giữ của bị cáo cất giữ với mục đích dùng để thực hiện trộm cắp tài sản nên tịch thu tiêu quỹ, gồm: 01 (một) mũi đoản phá khóa hình lục giác 8mm, bằng kim loại dài khoản 7,9cm được mài dẹp một đầu; 01 (một) mũi đoản phá khóa hình lục giác 8mm, bằng kim loại dài khoản 7,5cm được mài dẹp một đầu; 01 (một) mũi đoản phá khóa hình lục giác 8mm, bằng kim loại dài khoản 5,7cm được mài dẹp một đầu; 01 (một) khóa L bằng kim loại dùng để mở ốc lục giác 8mm, dài 12,9cm; 01 (một) thanh đồng phá khóa từ kèm theo nam châm dài 5cm.

[12] Xe máy hiệu Future, màu nâu bạc xám, biển số 77H1-111.78, số khung: RLHJC5323CY057305, số máy: JC54E0103504 bị cáo trộm cắp, qua xác minh xe do bị hại là ông Nguyễn Thanh B1 đứng tên chủ sở hữu, cơ quan cảnh sát điều tra đã trả xe lại cho bị hại là có cơ sở.

[13] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại nhận lại tài sản không có yêu cầu gì khác, tại phiên tòa vắng mặt nên không xét.

[14] Đối với đối tượng do bị cáo C rủ đi trộm cắp tài sản tên P chưa rõ nhân thân lai lịch, P sử dụng xe máy hiệu Wave biển số 59F1-413.97 chở bị cáo C thực hiện hành vi phạm tội, khi bị phát hiện bị cáo C bị bắt quả tang cùng tang vật, đối tượng P trốn thoát. Qua xác minh xe gắn máy hiệu Wave biển số 59F1-413.97 do bà Trần Kim P1 đứng tên sở hữu, bà P1 khai xe gắn máy hiệu Wave biển số 59F1-413.97 do bà P1 mua năm 2013 giá 28.000.000 đồng, đến năm 2017 bán lại cho người khác không làm giấy mua bán, không sang tên cho người mua, hiện bà P1 không biết người mua ở đâu. Cơ quan cảnh sát điều tra đã điều tra, xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch đối tượng tên P và xe máy hiệu Wave biển số 59F1-413.97, nên đề nghị cơ quan cảnh sát điều tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau.

[15] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Võ Minh C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng điểm g Khoản 2 Điều 173; điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Bị cáo Võ Minh C 03 (ba) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 09/10/2023.

2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình năm 2017 được sửa đổi, bổ sung năm 2021:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) mũi đoản phá khóa hình lục giác 8mm, bằng kim loại dài khoản 7,9cm được mài dẹp một đầu; 01 (một) mũi đoản phá khóa hình lục giác 8mm, bằng kim loại dài khoản 7,5cm được mài dẹp một đầu; 01 (một) mũi đoản phá khóa hình lục giác 8mm, bằng kim loại dài khoản 5,7cm được mài dẹp một đầu; 01 (một) khóa L bằng kim loại dùng để mở ốc lục giác 8mm, dài 12,9cm; 01 (một) thanh đồng phá khóa từ kèm theo nam châm dài 5cm.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại Samsung A50, số Imei: 356646104942834, số thuê bao: 0348800497.

(Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 145 ngày 26/9/2024).

3. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Võ Minh C phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

5. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM; (1)
  • - Sở Tư pháp TPHCM (1)
  • - VKSND Quận 7; (2)
  • - Công an Quận 7; (1)
  • - Chi cục THADS Quận 7; (1)
  • - Bị cáo (1)
  • - Người tham gia tố tụng khác; (1)
  • - THAHS (5)
  • - Lưu án, VP, Hs... (TK Đức) (4)
  • (17)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Lê Thị Phơ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 151/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 151/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vo Minh C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger