|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:151/2024/HS-ST
Ngày: 24-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Cầm Thị Thanh Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Bồ Thị Thái.
- Ông Hà Văn Tiêm.
- Thư ký phiên toà: Ông Đào Ngọc Sơn, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Lan- Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 158/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 160/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Tòng Văn K (tên gọi khác: Không), sinh ngày 26/02/2004 tại thành phố S, tỉnh Sơn La; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện tại: Tổ A, phường C,T, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Tòng Văn H, sinh năm 1983 và bà Tòng Thị M, sinh năm 1985; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2021 bị TAND huyện Mai Sơn xử phạt 18 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (được coi là không có án tích theo điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật hình sự). Bị cáo bị bắt từ ngày 11 tháng 6 năm 2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 30 phút ngày 11/6/2024 tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội phối hợp với Công an phường Q - Công an thành phố S làm nhiệm vụ tại khu vực tổ A, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La phát hiện một người nam giới đang đi bộ trên vỉa hè có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác mời người chứng kiến tiếp cận yêu cầu kiểm tra, người nam giới khai nhận tên Tòng Văn K, sinh năm 2004, trú tại phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Tòng Văn K tự giác lấy từ trong túi quần bên trái phía trước đang mặc ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói nilon màu trắng bên trong có 10 viên nén màu hồng và khai nhận là ma túy hồng phiến Tòng Văn K vừa mua để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Tòng Văn K và thu giữ, niêm phong toàn bộ vật chứng nghi là ma túy.
Ngày 11/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố S thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng thu giữ của Tòng Văn K, kết quả: 10 viên nén màu hồng có khối lượng 0,95 gam, lấy 03 viên có khối lượng 0,29 gam làm mẫu giám định ký hiệu A, còn 07 viên có khối lượng 0,66 gam làm mẫu lưu kho ký hiệu B.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố S ra Quyết định trưng cầu giám định số 825/QĐ-ĐCSHS đối với mẫu gửi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 1271/KL-KTHS ngày 12/6/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh S kết luận: Mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,29 gam.Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,95 gam; Loại Methamphetamine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Quá trình điều tra bị cáo Tòng Văn K khai nhận: Tòng Văn K sử dụng chất ma túy từ năm 2018, khoảng16 giờ ngày 11/6/2024 Tòng Văn K cầm theo số tiền 1.050.000 đồng và đi taxi từ nhà ở tổ A, phường C, thành phố S đến khu vực bến xe khách S để tìm mua ma tuý. Khi đến nơi, K xuống xe đi bộ trên vỉa hè đường L đến gần lối rẽ vào trường Đại học T thuộc tổ A phường Q, thành phố S thì gặp một người đàn ông dáng người cao gầy, đeo khẩu trang đang đứng một mình trong ngõ dân sinh (K không nhớ số ngõ). K lại gần hỏi “Anh có bán ma tuý không”, người đàn ông hỏi K muốn mua loại nào, K nói “bán cho em 1.000.000 đồng hồng phiến” và đưa tiền cho người đàn ông đó. Sau khi nhận tiền, người đàn ông đưa cho K 01 gói nilon màu trắng, Khoa mở ra kiểm tra thấy bên trong có 10 viên nén màu hồng, K gói lại và cất vào trong túi quần bên trái phía trước đang mặc rồi đi bộ tìm nơi để sử dụng. Khi đi được khoảng 30m thì gặp tổ công tác Công an thành phố S làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra,Tòng Văn K đã giao nộp gói ma túy cho tổ công tác như đã nêu trên.
Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ: Tòng Văn K khai nhận mua của một người đàn ông (không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) vào ngày 11/6/2024 tại khu vực gần lối rẽ vào trường Đại học T thuộc tổ A, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố S không có căn cứ để xác minh, điều tra mở rộng vụ án.
Tại bản cáo trạng số 419/CT-VKSTP ngày 11/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La đã truy tố bị cáo Tòng Văn K về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Tòng Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Tòng Văn K từ 24 đến 28 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng; Mẫu lưu B = 0,66 gam.
Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Tòng Văn K nhận tội, không có ý kiến tranh luận với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, thực hiện đúng thủ tục tố tụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã thể hiện:
Ngày 11/6/2024, Tòng Văn K đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 10 viên Methamphetamine có khối lượng 0,95 gam mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội phối hợp với Công an phường Q - Công an thành phố S phát hiện bắt quả tang tại khu vực tổ A, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La.
Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, không bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án, bị cáo hoàn toàn nhất trí với hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ:
- Lời khai nhận tội của bị cáo;
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 16 giờ 35 phút ngày11/6/2024 tại khu vực tổ A, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La đối với Tòng Văn K cùng vật chứng thu giữ là: 01 gói nilon màu trắng bên trong có 10 viên nén màu hồng;
- Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của anh Tòng Văn K1, sinh năm 1999, HKTT: Bản Sẳng, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết quả điều tra.
Đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Tòng Văn K phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Tòng Văn K phạm tội với tổng khối lượng 0,95 gam Methamphetamine đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng.
Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an ninh xã hội tại địa phương. Bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy có nhân thân xấu. Do đó cần có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cần cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa chung, trên cơ sở xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Bị cáo làm nghề lao động tự do, không thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Vật chứng vụ án:
Đối với 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng; Mẫu lưu B = 0,66gam là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Về án phí: Bị cáo Tòng Văn K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Tòng Văn K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Tòng Văn K 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/6/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh nilon màu trắng; Mẫu lưu B = 0,66 gam (được niêm phong trong 01 phong bì công văn do Công an thành phố S phát hành có dán giấy niêm phong Công an tỉnh S số 060737 và 01 dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S).
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14: Buộc bị cáo Tòng Văn K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Tòng Văn K được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 24/9/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Cầm Thị Thanh Huyền |
Bản án số 151/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 151/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Tòng Văn Khoa phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
