Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ N

TỈNH NINH BÌNH

Bản án số: 151/2024/HS-ST

Ngày 13/11/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Tống Kim Phượng

Bà Hoàng Thị Kim Phượng

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Giang, Thư ký - Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Lê Quang Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 131/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 147/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Thị N, (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nữ; Sinh năm 1979, tại Ninh Bình; Nơi cư trú: Số nhà 33, ngõ 343, đường N, phố A, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn P (Đã chết) và bà An Thị X; Chồng: Phạm Sỹ H (Đã ly hôn); Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: chưa có; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/03/2024 đến ngày 08/03/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay, (Có mặt).
  2. Họ và tên: Nguyễn Thị T, (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nữ; Sinh năm 1970, tại Ninh Bình; Nơi thường trú: Số nhà 238, đường N, phố Đ, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Nơi ở hiện nay: Số nhà 15, đường N, phố 4, phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 10/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị L1; Chồng: Mã Ngọc T; Con: Có 03 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: chưa có; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 08/03/2024 cho đến nay, (Có mặt).
  3. Họ và tên: Phạm Quỳnh L, (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh năm 1979, tại Ninh Bình; Nơi cư trú: Số nhà 44, ngõ 3, đường N, phố Đ, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Phạm Anh Q và bà Trần Thị L; Vợ: Vũ Thị P; Con: Có 03 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: chưa có; Nhân thân bị cáo: Tại bản án số 47/2014/HSST ngày 09/5/2014, Phạm Quỳnh L bị Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 9.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” (Đã được xoá án tích); Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/03/2024 đến ngày 08/03/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay, (Có mặt).
  4. Họ và tên: Tạ Thị H, (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nữ; Sinh năm 1988, tại Ninh Bình; Nơi thường trú: Số nhà 06, ngõ 354, đường N, phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Nơi ở hiện nay: Số nhà 130, ngõ 43, đường B, phố B, phường B, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Tạ Hữu T và bà Tống Thị N; Chồng: Trần Anh T; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: chưa có; Nhân thân bị cáo: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPHC ngày 10/01/2017, Tạ Thị H bị Công an phường T, thành phố N phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 12/03/2024 cho đến nay, (Có mặt).
  5. Họ và tên: Nguyễn Thị Tố N1, (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nữ; Sinh năm 1965, tại Ninh Bình; Nơi cư trú: Số nhà 10, ngõ 22, đường N, phố V, phường B, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 07/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn N (Liệt sỹ) và bà Phạm Thị T (Đã chết); Chồng: Nguyễn Văn T; Con: Có 01 con sinh năm 1992; Tiền án, tiền sự: chưa có; Nhân thân bị cáo: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 128/XPHC ngày 30/5/2020, Nguyễn Thị Tố N1 bị Công an thành phố N phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 07/06/2024 cho đến nay, (Có mặt).
  6. Họ và tên: Nguyễn Thị L1, (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nữ; Sinh năm 1970, tại Ninh Bình; Nơi cư trú: Số nhà 249, đường N, phố N, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 07/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn T (Đã chết) và bà Giang Thị T; Chồng: Hoàng Mạnh T; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1997; Tiền án, tiền sự: chưa có; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 07/06/2024 cho đến nay, (Có mặt).
  7. Họ và tên: Nguyễn Quốc V, (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh năm 1979, tại Ninh Bình; Nơi thường trú: Số nhà 07, ngõ 314, đường N, phố P, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Nơi ở hiện nay: Số nhà 70, ngõ 04, đường N, phố Đ, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam đã bị đình chỉ sinh hoạt ngày 05/11/2024 theo Quyết định số 130-QĐ/UBKT của Ủy ban kiểm tra, thành ủy Ninh Bình; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Bá H và bà Nguyễn Thị V; Vợ: Tạ Thị B; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: chưa có; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 07/06/2024 cho đến nay, (Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1977; trú tại: số nhà 66, đường N, phố H, phường N, thành phố N, (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị N có mối quan hệ quen biết với Nguyễn Thị T, Phạm Quỳnh L, Tạ Thị H, Nguyễn Thị Tố N1, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Quốc V và Nguyễn Văn Đ (sinh năm 1977, trú tại số nhà 66, đường N, phố H, phường N, thành phố N). Hàng ngày N đã nhận mua các số lô, số đề của L, H, N1, L1, V và Đ qua tin nhắn văn bản trên điện thoại di động. Sau đó N tập hợp lại, chuyển một phần số lô, số đề đã nhận và tự mua thêm các số lô, số đề khác rồi chuyển cho T để hưởng phần trăm hoa hồng. Hành vi đánh bạc bằng hình thức “mua bán số lô, số đề” được thua bằng tiền của N, T, L, H, N1, L1, V và Đ được thống nhất cách thức như sau:

  • + Đối với “số đề” có hai loại, gồm loại “02 số” và loại “03 số”, người đánh bạc chọn mua một hoặc nhiều cặp số bất kỳ (từ cặp số 00 đến cặp số 99, đối với loại “02 số” và từ cặp số 000 đến cặp số 999 đối với loại “03 số”). Việc đối chiếu kết quả được thống nhất là: Lấy hai số cuối của giải đặc biệt đối với loại “02 số” và 03 số cuối của giải đặc biệt đối với loại “03 số” của xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày để đối chiếu; nếu cặp số của người mua trùng với hai số hoặc ba số cuối của giải đặc biệt xổ số kiến thiết miền Bắc thì người mua “trúng đề”. Trong trường hợp này, người bán các số đề sẽ thanh toán cho người “trúng đề” với số tiền trúng thưởng có giá trị gấp 80 lần số tiền người “trúng đề” đã bỏ ra mua các cặp số đối với loại “02 số” và gấp 400 lần đối với loại “03 số”. Ngược lại nếu không có người mua nào “trúng đề” thì người bán sẽ được hưởng toàn bộ số tiền những người mua đã bỏ ra mua các cặp số đề.

  • + Đối với “số lô” gồm có “lô thường” và “lô xiên” trong đó:

    “Lô thường” có hai loại là “lô Ninh Bình” và “lô Hà Nội”. Người mua chọn mua một hoặc nhiều cặp số bất kỳ từ cặp số 00 đến cặp số 99. Nguyễn Thị N và Phạm Quỳnh L thống nhất giá lô Hà Nội là 23.000 đồng/01 điểm; Nguyễn Thị N và Tạ Thị H, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Thị Tố N1, Nguyễn Quốc V thống nhất giá lô Hà Nội là 22.000 đồng/01 điểm, giá lô Ninh Bình là 20.000 đồng/01 điểm; Nguyễn Thị N và Nguyễn Thị T thống nhất giá lô Hà Nội là 21.800 đồng/01 điểm. Việc đối chiếu kết quả, thanh toán được thống nhất là: Lấy hai số cuối của các giải trong 7 giải xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày để đối chiếu; nếu cặp số của người mua trùng khớp với hai số cuối của một hoặc các giải trong 7 giải xổ số kiến thiết miền Bắc thì người mua “trúng lô”. Nếu số lô Ninh Bình của người mua trùng khớp với một giải thì được nhận 70.000 đồng, trùng khớp với 02 giải thì được nhận 140.000 đồng; nếu số lô Hà Nội của người mua trùng khớp với một giải thì được nhận 80.000 đồng, trùng khớp hai giải thì được nhận 160.000 đồng. Ngược lại, nếu không có người mua nào “trúng lô” thì người bán số lô sẽ được nhận toàn bộ số tiền những người mua đã bỏ ra mua các số lô.

    Đối với “Lô xiên” gồm có “lô xiên 2”, “lô xiên 3 và “lô xiên 4”, khác với “lô Hà Nội”, người mua phải lựa chọn mua hai cặp số bất kỳ đối với loại “lô xiên 2", ba cặp số bất kỳ đối với loại “lô xiên 3”, bốn cặp số bất kỳ đối với loại “lô xiên 4”, từ cặp số 00 đến 99. Giá trị mỗi cặp số mua bao nhiêu là tùy người mua. Việc đối chiếu, thanh toán cũng đối chiếu với hai số cuối của các giải trong 7 giải xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày. Nếu hai cặp số của người mua trùng với hai số cuối của 7 giải kết quả xổ số thì người mua trúng “lô xiên 2”, nếu ba cặp số của người mua trùng với hai số cuối của 7 giải kết quả xổ số thì người mua trúng “lô xiên 3”, nếu bốn cặp số của người mua trùng với hai số cuối của 7 giải kết quả xổ số thì người mua trúng “lô xiên 4”. Trong trường hợp này, người bán các số lô xiên sẽ thanh toán cho người mua trúng thưởng có giá trị gấp 10 lần số tiền người trúng “lô xiên” đã bỏ ra mua các cặp số đối với loại “lô xiên 2”, gấp 40 lần đối với loại “lô xiên 3”, gấp 100 lần đối với loại “lô xiên 4”. Ngược lại, nếu không có người mua nào trúng “lô xiên” thì người bán các số lô xiên sẽ được nhận toàn bộ số tiền những người mua đã bỏ ra mua các cặp số lô xiên.

Từ cách tính thắng thua như trên, trong ngày 29/02/2024 Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị T, Phạm Quỳnh L, Tạ Thị H, Nguyễn Thị Tố N1, Nguyễn Thị L1 và Nguyễn Quốc V đã thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề thông qua tin nhắn văn bản trên điện thoại di động, cụ thể như sau:

Ngày 29/02/2024, Nguyễn Thị N sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17k lắp sim số 0981......17 nhận tin nhắn mua các số lô, số đề từ số điện thoại 0359.512.xxx lắp trên chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO của Tạ Thị H mua 02 số lô Hà Nội (tổng 280 điểm) = 6.160.000 đồng, 19 số đề “loại 2 số” = 205.000 đồng, 04 số đề “loại 3 số” = 40.000 đồng và 02 cặp “lô xiên 2” = 20.000 đồng. Tổng số tiền gốc là 6.425.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 29/02/2024, H không trúng thưởng. Như vậy, tổng số tiền N và H sử dụng để đánh bạc là 6.425.000 đồng, N và H chưa thanh toán thắng thua với nhau.

Ngày 29/02/2024, Nguyễn Thị N sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17k lắp sim số 0981......17 nhận tin nhắn mua các số lô, số đề từ số điện thoại 0978.908.xxx lắp trên chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus của Nguyễn Thị L1 mua 12 số lô Hà Nội (tổng 280 điểm) = 6.160.000 đồng, 01 số lô Ninh Bình (12 điểm) = 228.000 đồng, 169 số đề “loại 2 số” = 4.170.000 đồng, 04 số đề “loại 3 số” = 210.000 đồng, 02 cặp “lô xiên 3” = 70.000 đồng và 02 cặp “lô xiên 4” = 60.000 đồng. Tổng số tiền gốc là 10.898.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 29/02/2024, L1 trúng thưởng 10 điểm lô Hà Nội, thành tiền là 800.000 đồng và 01 cặp số lô xiên 3, thành tiền là 2.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền N và L1 sử dụng để đánh bạc là 13.698.000 đồng, N và L1 chưa thanh toán thắng thua với nhau.

Ngày 29/02/2024, Nguyễn Thị N sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17k lắp sim số 0981......17 nhận tin nhắn mua các số lô, số đề từ số điện thoại 0931.108.xxx lắp trên chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Pro của Nguyễn Thị Tố N1 mua 04 số lô Hà Nội (tổng 160 điểm) = 3.520.000 đồng, 31 số đề “loại 2 số” = 1.560.000 đồng, 12 số đề “loại 3 số” = 220.000 đồng, 01 cặp “lô xiên 3” = 110.000 đồng và 01 cặp “lô xiên 4” = 30.000 đồng. Tổng số tiền gốc là 5.450.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 29/02/2024, N1 trúng thưởng 60 điểm lô Hà Nội, thành tiền là 4.800.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền N và N1 sử dụng để đánh bạc là 10.250.000 đồng, N và N1 chưa thanh toán thắng thua với nhau.

Ngày 29/02/2024, Nguyễn Thị N sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17k lắp sim số 0981......17 nhận tin nhắn mua các số lô từ số điện thoại 0947......79 lắp trên chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s của Phạm Quỳnh L mua 08 số lô Hà Nội (tổng 120 điểm) = 2.760.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 29/02/2024, Lưu trúng thưởng 75 điểm lô Hà Nội, thành tiền là 6.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền N và L sử dụng để đánh bạc là 8.760.000 đồng, N và L chưa thanh toán thắng thua với nhau.

Ngày 29/02/2024, Nguyễn Thị N sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17k lắp sim số 0981......17 nhận tin nhắn mua các số lô từ số điện thoại 0911......66 lắp trên chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A05 của Nguyễn Quốc V mua 07 số lô Hà Nội (tổng 225 điểm) = 4.950.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 29/02/2024, Việt trúng thưởng 50 điểm lô Hà Nội, thành tiền là 4.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền N và V sử dụng để đánh bạc là 8.950.000 đồng, N và V chưa thanh toán thắng thua với nhau.

Cũng trong ngày 29/02/2024, Nguyễn Thị N sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A96 lắp sim số 0843......99 nhận các tin nhắn mua các số đề từ số điện thoại 0913.099.xxx của Nguyễn Văn Đ mua 02 số đề “loại 2 số” = 1.000.000 đồng, 02 số đề “loại 3 số” = 1.000.000 đồng. Tổng số tiền gốc là 2.000.000 đồng. Đối chiếu kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng ngày 29/02/2024, Đ không trúng thưởng. Như vậy, tổng số tiền N và Đ sử dụng để đánh bạc là 2.000.000 đồng, N và Đ chưa thanh toán thắng thua với nhau.

Sau khi nhận các số lô, số đề của H, L1, N1, L, V và Đ thì Nguyễn Thị N tập hợp lại, chuyển một phần các số lô, số đề đó cho Nguyễn Thị T với tổng số tiền là 13.431.000 đồng (trong đó N chuyển của H 140 điểm lô Hà Nội, 04 số đề “loại 3 số” và 01 cặp “lô xiên 3”; chuyển của N1 80 điểm lô Hà Nội, 31 số đề “loại 2 số”, 12 số đề “loại 3 số” và 01 cặp “lô xiên 3”; chuyển của L1 70 điểm lô Hà Nội, 18 số đề “loại 2 số”, 04 số đề “loại 3 số”, 02 cặp “lô xiên 3” và 02 cặp “lô xiên 4”; chuyển của V 45 điểm lô Hà Nội; chuyển của L 60 điểm lô Hà Nội; chuyển của Đ 02 số đề “loại 2 số”). Ngoài ra Nguyễn Thị N còn tự mua thêm 02 số lô Hà Nội (tổng 45 điểm) = 981.000 đồng, 13 số đề “loại 2 số” = 3.100.000 đồng, 02 cặp “lô xiên 2” = 400.000 đồng và 01 cặp “lô xiên 3” = 100.000 đồng, tổng số tiền N tự mua thêm là 4.581.000 đồng. Sau đó N sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17k lắp sim số 0981......17 gửi tin nhắn mua số lô, số đề trên đến số điện thoại 0344.908.xxx lắp trên chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max của Nguyễn Thị T với tổng số tiền gốc là 18.012.000 đồng (trong đó N tự mua thêm 4.581.000 đồng và 13.431.000 đồng là tiền các số lô N chuyển của H, L1, N1, L, V và Đ). Đối chiếu kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng ngày 29/02/2024 N trúng thưởng 77,5 điểm lô Hà Nội = 6.200.000 đồng và 01 cặp “lô xiên 3" = 2.000.000 đồng. Như vậy tổng số tiền T và N sử dụng để đánh bạc là 26.212.000 đồng, T và N chưa thanh toán thắng thua với nhau.

Đối với số tiền đánh bạc giữa T và N thì N chỉ phải chịu trách nhiệm thêm đối với số tiền các số lô, đề do N tự mua thêm là 4.581.000 đồng, còn số tiền các số lô, số đề N nhận mua của H, L1, N1, L, V và Đ rồi chuyển cho T thì N đã chịu trách nhiệm chung trong số tiền đánh bạc với H, L1, N1, L, V và Đ. Như vậy tổng số tiền Nguyễn Thị N sử dụng đánh bạc trong ngày 29/02/2024 là 54.664.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 137/CT-VKSNDTPNB ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N đã quyết định truy tố các bị cáo Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị T, Phạm Quỳnh L, Tạ Thị H, Nguyễn Thị Tố N1, Nguyễn Thị L1 và Nguyễn Quốc V về tội “Đánh bạc”. Áp dụng điểm b Khoản 2, Khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Thị N; Áp dụng Khoản 1, Khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Thị T, Phạm Quỳnh L, Tạ Thị H, Nguyễn Thị Tố N1, Nguyễn Thị L1 và Nguyễn Quốc V.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị T, Phạm Quỳnh L, Tạ Thị H, Nguyễn Thị Tố N1, Nguyễn Thị L1 và Nguyễn Quốc V đều phạm tội “Đánh bạc”.

- Áp dụng điểm b Khoản 2, Khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Thị N 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 05 năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 13/11/2024. Giao bị cáo cho UBND phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình theo dõi giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình trong việc giáo dục bị cáo. Phạt bổ sung bị cáo từ 18.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.

- Áp dụng Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 36 Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Thị T từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố N, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án; Giao bị cáo cho UBND phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình theo dõi giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát giáo dục bị cáo; Trong thời gian chấp hành án bị cáo còn bị khấu trừ thu nhập hàng tháng từ 05% đến 07% để sung công quỹ Nhà nước. Phạt bổ sung bị cáo từ 15.000.000 đồng đến 18.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.

- Áp dụng Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 36 Bộ luật hình sự. Xử phạt Phạm Quỳnh L từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ (được trừ 07 ngày tạm giữ quy đổi thành 21 ngày cải tạo không giam giữ), thời hạn tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố N, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án; Giao bị cáo cho UBND phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình theo dõi giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát giáo dục bị cáo; Trong thời gian chấp hành án bị cáo còn bị khấu trừ thu nhập hàng tháng từ 05% đến 07% để sung công quỹ Nhà nước. Phạt bổ sung bị cáo từ 12.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự; Xử phạt Tạ Thị H từ 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước;

- Áp dụng Khoản 1 Điều 321; điểm i, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự; Xử phạt Nguyễn Thị Tố N1 28.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự.

+ Xử phạt Nguyễn Thị L1 từ 25.000.000 đồng đến 28.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước;

+ Xử phạt Nguyễn Quốc V từ 22.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước;

Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS.

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 40.683.000 đồng liên quan đến hành vi đánh bạc ngày 29/02/2024 do các bị cáo T, H, L1, N1, V, L và anh Nguyễn Văn Đ tự nguyện giao nộp.

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 13.981.000 đồng liên quan đến hành vi đánh bạc ngày 29/02/2024 do bị cáo N tự nguyện giao nộp.

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17k lắp sim số 0981......17 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A96 lắp sim số 0843......99 thu của Nguyễn Thị N; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus lắp sim số 0978.908.407 thu của Nguyễn Thị L1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Pro không lắp sim thu của Nguyễn Thị Tố N1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s lắp sim số 0947......79 thu của Phạm Quỳnh L; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A05 lắp sim số 0911......66 thu của Nguyễn Quốc V, là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội.

Về án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫;

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Các bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là khách quan phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra; biên bản kiểm tra điện thoại thu giữ của các bị cáo; các tài liệu chứng cứ có trong hồ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận trong ngày 29/02/2024 tại địa bàn thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị T, Phạm Quỳnh L, Tạ Thị H, Nguyễn Thị Tố N1, Nguyễn Thị L1 và Nguyễn Quốc V đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề được thua bằng tiền thông qua tin nhắn văn bản trên điện thoại di động. Cụ thể các bị can đã sử dụng số tiền để đánh bạc như sau: Nguyễn Thị N sử dụng 54.664.000 đồng; Nguyễn Thị T sử dụng 26.212.000 đồng; Phạm Quỳnh L sử dụng 8.760.000 đồng; Tạ Thị H sử dụng 6.425.000 đồng; Nguyễn Thị Tố N1 sử dụng 10.250.000 đồng; Nguyễn Thị L1 sử dụng 13.698.000 đồng và Nguyễn Quốc V sử dụng 8.950.000 đồng.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trên địa bàn thành phố N; các bị cáo là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi theo quy định, thực hiện hành vi do lỗi cố ý. Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự, thấy: hành vi, tội danh và điều khoản áp dụng tại bản cáo trạng, lời luận tội, chứng cứ buộc tội các bị cáo như Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà là có căn cứ. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị N đã phạm tội “Đánh bạc” thuộc trường hợp “Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị Thuỷ, Phạm Quỳnh L, Tạ Thị H, Nguyễn Thị Tố N1, Nguyễn Thị L1 và Nguyễn Quốc V đã phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Điều 321. Tội đánh bạc

  1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
    • b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên;

  3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Đây là vụ án có đông bị cáo tham gia, nhưng không thuộc trường hợp có tính tổ chức; các bị cáo phạm tội mang tính chất giản đơn, các bị cáo đã lợi dụng vào kết quả xổ số kiết thiết Miền Bắc mở thưởng hàng ngày, để cá cược đánh bạc với nhau bằng hình thức “chơi lô, đề” được thua bằng tiền nhằm thu lời bất chính; với tính chất mức độ tham gia và vai trò khác nhau của các bị cáo, vì vậy khi cá thể hóa trách nhiệm hình sự, để quyết định hình phạt cũng cần xem xét áp dụng hình phạt cho phù hợp với hành vi phạm tội của từng bị cáo;

Đối với bị cáo Nguyễn Thị N là người trực tiếp đánh bạc bằng hình thức nhận các số lô, số đề của Phạm Quỳnh L, Tạ Thị H, Nguyễn Thị Tố N1, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Quốc V và Nguyễn Văn Đ. Sau khi nhận các số lô, số đề của Lưu, Hường, Nga, Luyến, Việt và Đức, Nhung tập hợp và chuyển một phần cho Thủy với tổng số tiền gốc là 18.012.000 đồng (trong đó Nhung tự mua thêm 4.581.000 đồng và 13.431.000 đồng là tiền các số lô Nhung chuyển của Hường, Luyến, Nga, Lưu, Việt và Đức); do đó, bị cáo giữ vai trò chính trong vụ án.

Đối với bị cáo Nguyễn Thị T là người trực tiếp đánh bạc bằng hình thức nhận các số lô, số đề của Nguyễn Thị N; do đó, bị cáo giữ vai trò đồng phạm với Nhung và có vai trò sau bị cáo Nhung.

Đối với các bị cáo Phạm Quỳnh L, Tạ Thị H, Nguyễn Thị Tố N1, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Quốc V đã trực tiếp mua các số lô, số đề của Nguyễn Thị N; do đó các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm với bị cáo Nhung và có vai trò như nhau sau bị cáo Nhung và Thủy.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo đều không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Bị cáo Nguyễn Thị N được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; tự nguyện nộp lại số tiền đánh bạc để khắc phục hậu quả; hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

  • Các bị cáo Nguyễn Thị L1 và Nguyễn Quốc V đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và đã tự nguyện nộp lại số tiền đánh bạc để khắc phục hậu quả quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

  • Bị cáo Nguyễn Thị Tố N1 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “Người phạm tội là con của liệt sỹ” và đã tự nguyện nộp lại số tiền đánh bạc để khắc phục hậu quả quy định tại điểm i, s, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

  • Bị cáo Nguyễn Thị T được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “Đầu thú” và đã tự nguyện nộp lại số tiền đánh bạc để khắc phục hậu quả quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

  • Bị cáo Tạ Thị H được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, đã tự nguyện nộp lại số tiền đánh bạc để khắc phục hậu quả, có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng Ba và mẹ đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

  • Bị cáo Phạm Quỳnh L được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và đã tự nguyện nộp lại số tiền đánh bạc để khắc phục hậu quả quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của từng bị cáo; Hội đồng xét xử, xét thấy:

- Đối với bị cáo Nguyễn Thị N xét thấy không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù vì có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội; do đó cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp.

- Đối với các bị cáo Nguyễn Thị T, Phạm Quỳnh L cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với mức độ phạm tội của các bị cáo tuy nhiên các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, xét thấy cần áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục là có căn cứ, phù hợp. Đồng thời quyết định khấu trừ thu nhập hàng tháng trong thời gian chấp hành án đối với các bị cáo là 5%.

- Đối với các bị cáo Tạ Thị H, Nguyễn Thị Tố N1, Nguyễn Thị L1 và Nguyễn Quốc V chỉ cần áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ để giáo dục cải tạo bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của BLHS “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000₫ đến 50.000.000₫”. Do đó, đối với các bị cáo Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị T, Phạm Quỳnh L ngoài hình phạt chính cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với N là 20.000.000 đồng, T 18.000.000 đồng, L 12.000.000 đồng để sung nộp ngân sách nhà nước. Đối với các bị cáo H, N1, L1, V do áp dụng hình phạt chính là phạt tiền vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[2]. Các biện pháp tư pháp:

- Đối với số tiền 40.683.000 đồng các bị cáo Nguyễn Thị T, Tạ Thị H, Nguyễn Thị L1,Nguyễn Thị Tố N1, Nguyễn Quốc V, Phạm Quỳnh L và Nguyễn Văn Đ đã tự nguyện giao nộp số tiền liên quan đến hành vi đánh bạc ngày 29/02/2024 cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- Đối với số tiền 13.981.000 đồng bị cáo Nguyễn Thị N đã tự nguyện giao nộp liên quan đến hành vi đánh bạc ngày 29/02/2024 cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17k lắp sim số 0981......17 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A96 lắp sim số 0843......99 thu của Nguyễn Thị N; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus lắp sim số 0978.908.407 thu của Nguyễn Thị L1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Pro không lắp sim thu của Nguyễn Thị Tố N1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s lắp sim số 0947......79 thu của Phạm Quỳnh L; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A05 lắp sim số 0911......66 thu của Nguyễn Quốc V, là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội; do vậy, cần tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước.

- Quá trình điều tra và chuẩn bị xét xử các bị cáo và người liên quan đã tự nguyện giao nộp lại toàn bộ số tiền sử dung vào việc đánh bạc và được hưởng lợi từ việc đánh bạc; cụ thể Nguyễn Thị T nộp 8.200.000 đồng; Tạ Thị H nộp 6.425.000 đồng; Nguyễn Thị L1 nộp 10.898.000 đồng; Nguyễn Thị Tố N1 nộp 5.450.000 đồng; Nguyễn Quốc V nộp 4.950.000 đồng; Phạm Quỳnh L nộp 2.760.000 đồng; Nguyễn Văn Đ nộp 2.000.000 đồng; Nguyễn Thị N nộp 13.981.000 đồng, do đó không đặt ra xem xét.

[3]. Các vấn đề khác:

- Đối với Nguyễn Văn Đ đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số đề của Nguyễn Thị N ngày 29/02/2024 với số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 2.000.000 đồng, bản thân Đ chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, chưa bị kết án về tội đánh bạc hoặc tội quy định tại Điều 322 Bộ luật Hình sự, nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Công an thành phố N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đ bằng hình thức phạt tiền, số tiền là 350.000 đồng.

- Đối với 01 sim số 0931.108.415; 01 sim số 0359.512.585 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max lắp sim số 0344.908.394 là các sim điện thoại và chiếc điện thoại mà N1, H và T sử dụng để nhắn tin mua bán số lô, số đề với Nguyễn Thị N. Quá trình điều tra, N1, H và T khai nhận do sợ bị phát hiện hành vi đánh bạc nên H đã đốt chiếc sim, còn N1 và T đã vứt chiếc sim và chiếc điện thoại đi, không nhớ vị trí cụ thể nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO của Tạ Thị H, quá trình điều tra xác định ngày 28/01/2024, H đã mua bán số lô, số đề với Phan Sỹ Quyết (sinh năm 1979, trú tại phố N, phường T, thành phố N, tỉnh Ninh Bình). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình đã thu giữ vật chứng là chiếc điện thoại trên và ra Quyết định khởi tố trong một vụ án độc lập.

[4]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[5]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Điểm b Khoản 2, Khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị N.

  • - Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 36 Bộ luật hình sự. đối với bị cáo Nguyễn Thị T.

  • - Khoản 1, Khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Quỳnh L.

  • - Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Tạ Thị H.

  • - Khoản 1 Điều 321; điểm i, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị Tố N1.

  • - Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Thị L1 và Nguyễn Quốc V.

  1. Tuyên bố: các bị cáo Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị T, Phạm Quỳnh L, Tạ Thị H, Nguyễn Thị Tố N1, Nguyễn Thị L1 và Nguyễn Quốc V đều phạm tội “Đánh bạc”;
    1. Xử phạt Nguyễn Thị N 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 05 năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 13/11/2024 (bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 01/03/2024 đến ngày 08/03/2024). Giao bị cáo cho UBND phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình theo dõi giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình trong việc giáo dục bị cáo. Phạt bổ sung bị cáo 20.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.

      * Nếu bị cáo Nguyễn Thị N thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 68, Điều 92 luật Thi hành án hình sự.

      (Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS).

    2. Xử phạt Nguyễn Thị T 15 tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố N, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án; Giao bị cáo cho UBND phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình theo dõi giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường Đ, thành phố N, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát giáo dục bị cáo; Trong thời gian chấp hành án bị cáo còn bị khấu trừ thu nhập hàng tháng 05% để sung công quỹ Nhà nước. Phạt bổ sung bị cáo 18.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.

    3. Xử phạt Phạm Quỳnh L 12 tháng cải tạo không giam giữ (được trừ 07 ngày tạm giữ từ ngày 01/03/2024 đến ngày 08/03/2024 quy đổi thành 21 ngày cải tạo không giam giữ), thời hạn tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thành phố N, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án; Giao bị cáo cho UBND phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình theo dõi giám sát giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình trong việc giám sát giáo dục bị cáo; Trong thời gian chấp hành án bị cáo còn bị khấu trừ thu nhập hàng tháng 05% để sung công quỹ Nhà nước. Phạt bổ sung bị cáo 12.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.

      * Nếu các bị cáo Nguyễn Thị T, Phạm Quỳnh L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 68, Điều 100 luật Thi hành án hình sự.

    4. Xử phạt Tạ Thị H 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước;

    5. Xử phạt Nguyễn Thị Tố N1 28.000.000 đồng (Hai mươi tám triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước;

    6. Xử phạt Nguyễn Thị L1 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước;

    7. Xử phạt Nguyễn Quốc V 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước;

  2. Các biện pháp tư pháp: áp dụng các điều 46, 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 40.683.000 đồng (Bốn mươi triệu sáu trăm tám mươi ba nghìn đồng), số tiền 40.683.000 đồng hiện đang ở tài khoản 3949.0.1055126.00000 Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N, tỉnh Ninh Bình tại kho bạc Nhà nước tỉnh Ninh Bình.

    • - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 13.981.000 đồng (Mười ba triệu chín trăm tám mươi mốt nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0000471 ngày 11/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N, tỉnh Ninh Bình.

    • - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A17k lắp sim số 0981......17; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A96 lắp sim số 0843......99; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus lắp sim số 0978.908.407; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Pro không lắp sim; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s lắp sim số 0947......79; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A05 lắp sim số 0911......66. (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N, tỉnh Ninh Bình và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N, tỉnh Ninh Bình).

  3. Án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu án phí Tòa án. Buộc các bị Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị T, Phạm Quỳnh L, Tạ Thị H, Nguyễn Thị Tố N1, Nguyễn Thị L1 và Nguyễn Quốc V mỗi bị cáo phải nộp là 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: căn cứ các điều 331 và 333 bộ luật tố tụng hình sự;
    • - Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    • - Anh Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoạc bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người liên quan;
  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND thành phố N;
  • - Công an thành phố N;
  • - Chi cục THADS thành phố N;
  • - Thi hành án HS;
  • - Sở Tư pháp Ninh Bình;
  • - UBKT thành ủy Ninh Bình;
  • - Lưu (Hồ sơ, VP);
  • (Thông báo cho chính quyền địa phương)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Ngọc Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 151/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N - TỈNH NINH BÌNH về tội đánh bạc

  • Số bản án: 151/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N - TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trong ngày 29/02/2024 tại địa bàn thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị T, Phạm Quỳnh L, Tạ Thị H, Nguyễn Thị Tố N1, Nguyễn Thị L1 và Nguyễn Quốc V đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề được thua bằng tiền thông qua tin nhắn văn bản trên điện thoại di động. Cụ thể các bị can đã sử dụng số tiền để đánh bạc như sau: Nguyễn Thị N sử dụng 54.664.000 đồng; Nguyễn Thị T sử dụng 26.212.000 đồng; Phạm Quỳnh L sử dụng 8.760.000 đồng; Tạ Thị H sử dụng 6.425.000 đồng; Nguyễn Thị Tố N1 sử dụng 10.250.000 đồng; Nguyễn Thị L1 sử dụng 13.698.000 đồng và Nguyễn Quốc V sử dụng 8.950.000 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger