Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẢO LỘC

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 151/2024/HS-ST

Ngày: 06-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Khắc Phong

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tống Văn Long

Ông Hoàng Xuân Tỵ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bắc - Là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Tuyền - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 142/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Quang T, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 28/11/1996 tại Đồng Nai; hộ khẩu thường trú và cư trú: Số A, Khu phố F, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn R, sinh năm 1939, nơi ở: Số A, Khu phố F, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và con bà Phạm Thị C, sinh năm 1948 (đã chết); vợ: Đặng Thị T1, sinh năm: 1987; con: Có 01 con sinh năm 2023; tiền sự: Không.

- Tiền án:

  • + Ngày 27/6/2007, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 05 tù giam về tội “Cướp tài sản” theo Bản án 198/2007/HSST. Ngày 01/01/2011 chấp hành xong hình phạt tù. Đã nộp tiền án phí và tiền phạt sung công ngày 22/10/2007, chưa được xóa án tích.
  • + Ngày 25/3/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 07 năm tù giam về tội “Cướp tài sản” theo Bản án 154/2013/HSST. Ngày 06/9/2017 chấp hành xong hình phạt tù. Đối với hình phạt bổ sung và án phí tổng số tiền là 3.382.600đ, bị cáo đã nộp số tiền 1.700.000đ, đối với số tiền 1.682.600đ còn lại đến ngày 29/7/2024 được Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa ban hành Quyết định miễn thi hành án với số tiền còn lại này. Vì vậy, chưa được xóa án tích.

- Nhân thân: Ngày 22/10/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tuyên phạt 04 năm 06 tháng tù giam về tội “Cướp tài sản” theo Bản án

số 377/2018/HSST. Ngày 19/3/2022 chấp hành xong hình phạt tù, nộp án phí xong ngày 15/3/2019 nên đã được xóa án tích.

Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 21/6/2024 cho đến nay. Có mặt.

Bị hại: Anh Vũ Minh T2, sinh năm: 1982; nơi cư trú: A C, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

Người làm chứng:

  1. Ông Trần Văn V, sinh năm: 1965; nơi cư trú: Số A Bà T, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
  2. Anh Trần Văn C1, sinh năm: 1997; nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 21/6/2024, Lê Quang T đi bộ một mình trên đường B, phường B, thành phố B với mục đích tìm kiếm tài sản để trộm cắp, bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi đi ngang qua căn nhà số A B T, phường B, thành phố B của ông Trần Văn V thì T phát hiện thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda PCX, biển số: 59Z1-080.38 của anh Vũ Minh T2, sinh năm: 1982, nơi cư trú: Số A đường C, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh (là con rể của ông V) dựng trong sân, trên xe có cắm sẵn chìa khóa. Quan sát xung quanh thấy không có người trông coi, T đi đến dắt trộm chiếc xe mô tô nói trên ra khỏi sân rồi đề máy nhưng xe không nổ (do xe gắn thiết bị chống trộm) nên T dắt xe đi ra đường Bà T3 để mang đi tìm chỗ tiêu thụ. Ngay lúc này ông V và anh Trần Văn C1, sinh năm: 1997, nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện D, Lâm Đồng đang ngồi trước số nhà B đường B, phường B, thành phố B nhìn thấy T đang dắt xe mô tô từ trong sân đi ra đường Bà T3 nên truy hô, bị phát hiện nên T dắt xe bỏ chạy được khoảng 30m thì T vứt xe lại rồi tiếp tục bỏ chạy. Thấy vậy ông V lấy xe mô tô chở anh C1 đuổi theo T đến hẻm H đường Q, phường B, thành phố B, anh C1 đuổi kịp, bắt giữ được T và trình báo Công an phường B1, thành phố B lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T.

Tại Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 60/KL-HĐĐGTS ngày 24/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận giá trị tài sản tại thời điểm ngày 21/06/2024 của 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda PCX, biển số: 59Z1-080.38, số khung: 3002 BY002258, số máy: JF28E2101564 đăng ký lần đầu ngày 19/10/2010 (tài sản thu hồi được) là: 25.000.000đ (hai mươi năm triệu đồng).

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 và trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát: 59Z1-080.38, nhãn hiệu Honda PCX, số máy: JF28E2101564, số khung: 3002BY002258, năm sản suất: 2010, dung tích xi lanh: 124,9cm³; tình trạng: đã qua sử dụng cho anh Vũ Minh T2 là chủ sở hữu hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Vũ Minh T2 đã nhận lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda PCX, biển kiểm soát: 59Z1-080.38 và không có yêu cầu gì về phần dân sự.

Cáo trạng số: 148/CT-VKSBL ngày 03/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố Lê Quang T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo không thắc mắc, khiếu nại bản cáo trạng, khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lê Quang Trọng phạm T4 “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 04 đến 05 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Không ai có yêu cầu gì nên không xem xét đến.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 21/6/2024, Lê Quang T đi bộ một mình ngang qua căn nhà số A B T, phường B, thành phố B thì T phát hiện thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda PCX, biển số: 59Z1-080.38 của anh Vũ Minh T2 dựng trong sân, trên xe có cắm sẵn chìa khóa. Quan sát xung quanh thấy không có người trông coi, T đi đến dắt trộm chiếc xe mô tô nói trên ra khỏi sân rồi đề máy nhưng xe không nổ (do xe gắn thiết bị chống trộm) nên T dắt xe đi ra đường Bà T3 để mang đi tìm chỗ tiêu thụ thì bị ông Trần Văn V và anh Trần Văn C1 đang ngồi trước số nhà B B T, phường B, thành phố B phát hiện, đuổi theo bắt giữ và giao cho Cơ quan Công an.

Theo Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số: 60/KL-HĐĐGTS ngày 24/6/2024 của Hội đồng định giá kết luận giá trị tài sản tại thời điểm ngày 21/06/2024 của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda PCX, biển số: 59Z1-080.38 là 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng).

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý, mục đích để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Trong khi, bị cáo đã từng bị kết án về tội

thuộc trường hợp rất nghiêm trọng và bị áp dụng tình tiết tái phạm nguy hiểm, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội.

Vì vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Lê Quang T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

  • - Nhân thân: Bị cáo có nhân thân rất xấu.
  • - Tình tiết tăng năng: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nhưng đây là tình tiết định khung nên không áp dụng tình tiết tăng nặng đối với bị cáo.
  • - Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt chính: Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện thái độ coi thường pháp luật, đã xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người khỏe mạnh, có đủ khả năng lao động nhưng không chịu lao động kiếm sống chân chính mà đi trộm cắp tài sản của người khác để sử dụng. Mặt khác, bị cáo phạm tội khi đang có 02 tiền án. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện tu dưỡng, rèn luyện thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa thể hiện bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng: Đối 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda PCX, biển số: 59Z1-080.38, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Vũ Minh T2 là đúng pháp luật nên không đề cập đến.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, hiện nay không có yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét đến.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Ý kiến, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Quang Trọng phạm T4 “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Quang T 04 (B) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/6/2024.

  1. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Lê Quang T phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh Lâm Đồng (2);
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (1)
  • - VKSND TP. Bảo Lộc (1)
  • - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng (1)
  • - Công an TP. Bảo Lộc (1)
  • - Chi cục THA dân sự TP. Bảo Lộc (1)
  • - Bị cáo (1)
  • - Bị hại (1)
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ninh Khắc Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 151/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 151/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Quang T phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger