TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 151/2024/HS-ST Ngày 10 - 7 - 2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Thành Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đăng Cường;
- Bà Phạm Thị Hiền.
- Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Vân Anh, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Nguyễn Thái Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 122/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Lò Văn V; sinh ngày 06 tháng 5 năm 1995, tại tỉnh Điện Biên; nơi đăng ký thường trú: bản V, xã P, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; nơi ở trước khi bị bắt: khu E, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 7/12; dân tộc: Khơ Mú; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn K và bà Lò Thị M; vợ, con: chưa có; tiền án: ngày 26/9/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 18 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 20/9/2023, chấp hành xong hình phạt tù; tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 25/3/2024; tạm giam từ ngày 03/4/2024; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.
- Vũ Xuân L; sinh ngày 24 tháng 02 năm 1983, tại tỉnh Thái Bình; nơi thường trú: thôn T, xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn S và bà Trần Thị L1; có vợ là Đinh Thị T, sinh năm 1984; có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 25/3/2024 đến ngày 02/4/2024; được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn sang “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”; hiện tại ngoại; có mặt.
- Phạm Văn T1; sinh ngày 02 tháng 4 năm 1974, tại tỉnh Thái Bình; nơi thường trú: thôn N, xã S, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn K1 và bà Tô Thị N; có vợ là Đỗ Thị L2, sinh năm 1979; có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 05/6/2018, bị Công an huyện T, tỉnh Thái Bình xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng, về hành vi “Đánh bạc”. Ngày 06/6/2018, chấp hành xong Quyết định xử phạt; bị tạm giữ từ ngày 25/3/2024 đến ngày 02/4/2024; được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn sang “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”; hiện tại ngoại; có mặt.
- Nguyễn Văn H; sinh ngày 04 tháng 10 năm 1975, tại tỉnh Thái Bình; nơi thường trú: thôn K, xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh H1 và bà Dương Thị M1; có vợ là Nguyễn Thị T2, sinh năm 1979; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 25/3/2024 đến ngày 02/4/2024; được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn sang “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”; hiện tại ngoại; có mặt.
- Nguyễn Duy L3; sinh ngày 16 tháng 3 năm 1975, tại tỉnh Thái Bình; nơi thường trú: thôn M, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy C và bà Nguyễn Thị D; có vợ là Nguyễn Thị B, sinh năm 1977; có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 25/3/2024 đến ngày 02/4/2024; được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn sang “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”; hiện tại ngoại; có mặt.
- Nguyễn Văn T3; sinh ngày 18 tháng 4 năm 1976, tại tỉnh Thái Bình; nơi thường trú: thôn K, xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M2 và bà Nguyễn Thị T4; có vợ là Nguyễn Thị L4, sinh năm 1978; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 25/3/2024 đến ngày 02/4/2024; được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn sang “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”; hiện tại ngoại; có mặt.
- Nguyễn Văn L5; sinh ngày 29 tháng 4 năm 1975, tại tỉnh Thái Bình; nơi thường trú: thôn K, xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L6 và bà Nguyễn Thị Đ; có vợ là Nguyễn Thị Tuyết H2, sinh năm 1982; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 25/3/2024 đến ngày 02/4/2024; được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn sang “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh”; hiện tại ngoại; có mặt.
- Những người làm chứng:
- Anh Lê Anh V1, sinh năm 1986; địa chỉ: tổ E, khu F, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt;
- Chị Đinh Thị B1, sinh năm 1980; nơi thường trú: Đội T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; nơi ở hiện tại: lô A, khu đô thị F, khu E, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt;
- Anh Phạm Văn S1, sinh năm 1980; nơi thường trú: thôn Ứ, xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương; nơi ở hiện tại: lô A, khu đô thị F, khu E, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt;
- Người chứng kiến: Anh Quàng Văn T5, sinh năm 1986; nơi thường trú: Bản V, xã P, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; nơi ở hiện tại: lô A, khu đô thị F, khu E, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lò Văn V, Vũ Xuân L, Phạm Văn T1, Nguyễn Văn H, Nguyễn Duy L3, Nguyễn Văn T3, Nguyễn Văn L5 và anh Phạm Văn S1 quen biết nhau do cùng là công nhân xây dựng tại khu đô thị F, thuộc khu E, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 24/3/2024, sau khi ăn cơm xong, L cùng T1, T3, H và anh S1 ngồi uống nước tại tầng 2, căn số 4, lô A trong khu đô thị. Khoảng 20 phút sau, L rủ mọi người đánh bạc, được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “Liêng” thì T1, T3, H đồng ý. T1 bỏ bộ bài mang theo từ trước ra ngồi xuống chiếu và chăn đã được trải sẵn dưới nền nhà, rồi cùng L, T3, H đánh bạc, còn anh S1 chỉ ngồi xem. Từ khoảng 21 giờ đến 21 giờ 20 phút cùng ngày, lần lượt có V, L5 và L3 đến thấy mọi người đánh bạc thì cũng tham gia đánh bạc cùng. Sau đó, có chị Đinh Thị B1 đến thấy mọi người đánh bạc thì cũng ngồi xem.
Về cách thức đánh bạc: Viên, L, T1, H, L3, T3 và L5 sử dụng bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân bài từ “A, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J, Q, K” để đánh “Liêng”. Khi bắt đầu chơi, mỗi người chơi cần phải bỏ ra số tiền là 10.000 đồng, gọi là tiền “gà”. Sau đó, mỗi người chơi được chia 03 quân bài và sẽ có các lựa chọn như sau: “Úp bài” nếu thấy bài của mình có số điểm thấp, không thể thắng người khác, nếu úp bài người chơi sẽ bị mất đi số tiền đặt gà ban đầu và kết thúc ván bài sau đó; “Theo” là đặt tiền cược bằng số tiền của người ở cửa trên (người ở phía trước theo vòng) đặt; “Tố” là đặt thêm tiền cược cao hơn số tiền của những người chơi trên đã đặt, số tiền tố từ 10.000 đồng đến 100.000 đồng mỗi lượt và mỗi ván bài có nhiều lượt tố. Sau khi người chơi đặt xong tiền cược, không còn ai theo nữa thì sẽ mở bài để so sánh với nhau, người nào có bộ bài mang giá trị cao nhất là người thắng cuộc. Các bộ bài được tính theo thứ tự từ lớn đến bé như sau: “Sáp” là bộ ba lá bài giống nhau; “Liêng” là ba lá bài liên tiếp nhau; “Anh” là cả ba quân bài đều là quân Tây (J, Q, K). Nếu không thuộc các trường hợp trên thì cộng điểm của 3 quân bài lại, lấy số của hàng đơn vị để so sánh với nhau. Trong đó quy ước quân Á là 1 điểm, “10, J, Q, K” đều là 0 điểm, các quân còn lại có số điểm tương ứng.
Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi cả nhóm đang đánh bạc thì bị Tổ công tác Đ1 Công an thành phố H bắt quả tang, thu giữ tại vị trí trước mặt V, L, T1, H, L3, T3, L5 ngồi số tiền 9.560.000 đồng; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; 01 chiếc chiếu; 01 chăn vải. Cơ quan điều tra đã gửi vào Kho bạc nhà nước tỉnh Q và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh để quản lý theo quy định.
Quá trình điều tra, Lò Văn V, Vũ Xuân L, Phạm Văn T1, Nguyễn Văn H, Nguyễn Duy L3, Nguyễn Văn T3 và Nguyễn Văn L5 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên, xác định: Đây là lần đầu tiên các bị cáo đánh bạc cùng nhau. Khi rủ T3, H, T1 đánh bạc thì L nói “làm tí L7”, đồng thời L lấy tiền trong người ra ngồi xuống chăn thì T3, H, T1 hiểu ý và cùng ngồi xuống bỏ tiền ra đánh bạc. Về nguồn gốc bộ bài: T1 khai nhặt được ở trước cửa căn số 4, lô A khu đô thị F. Về số tiền đánh bạc: Viên bỏ ra 1.750.000 đồng đánh bạc, thắng 2.090.000 đồng, tổng cộng có 3.840.000 đồng bị thu giữ khi bắt quả tang; L bỏ ra 1.100.000 đồng đánh bạc, thua 920.000 đồng, còn 180.000 đồng bị thu giữ khi bắt quả tang; T1 bỏ ra 1.100.000 đồng đánh bạc, thắng 560.000 đồng, tổng cộng có 1.660.000 đồng bị thu giữ khi bắt quả tang; H bỏ ra 3.100.000 đồng đánh bạc, thua 1.250.000 đồng, còn 1.850.000 đồng bị thu giữ khi bắt quả tang; L3 bỏ ra 930.000 đồng đánh bạc, thắng 390.000 đồng, tổng cộng có 1.320.000 đồng bị thu giữ khi bắt quả tang; T3 bỏ ra 810.000 đồng đánh bạc, thua 750.000 đồng, còn 60.000 đồng bị thu giữ khi bắt quả tang; L5 bỏ ra 770.000 đồng đánh bạc, thua 260.000 đồng, còn 510.000 đồng bị thu giữ khi bắt quả tang. Ngoài ra, khi bị bắt quả tang, trong số tiền bị thu giữ còn có 140.000 đồng là tiền “gà” của các bị cáo mỗi người góp 20.000 đồng để đánh bạc. Về vị trí ngồi đánh bạc theo chiều kim đồng hồ lần lượt là T1, L5, L, V, H, L3 và T3. Tại phiên tòa, các bị cáo khai phù hợp với lời khai của mình tại Cơ quan điều tra và thừa nhận việc truy tố và đưa các bị cáo ra xét xử là đúng người, đúng tội, không oan, sai, các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng bản thân chỉ là người lao động, đi làm thuê, có hoàn cảnh gia đình khó khăn, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Giai đoạn điều tra, những người làm chứng nêu trên khai phù hợp với nội dung Cáo trạng. Anh S1 và chị B1 khai: khi các bị cáo đánh bạc, mình chỉ ngồi xem, không xúi giục hay tham gia đánh bạc. Anh T5 khai: không biết các bị cáo đánh bạc, nhưng khi Công an đến bắt quả tang, anh có được yêu cầu tham gia chứng kiến sự việc.
Tại bản Cáo trạng số: 1517/CT-VKS-HL ngày 29 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo Lò Văn V, Vũ Xuân L, Phạm Văn T1, Nguyễn Văn H, Nguyễn Duy L3, Nguyễn Văn T3 và Nguyễn Văn L5, về tội “Đánh bạc”, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
a) Về hình phạt:
- Căn cứ: khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt: bị cáo Lò Văn V từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội Đánh bạc, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 25/3/2024).
- Căn cứ: khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 (các bị cáo Phạm Văn T1 và Nguyễn Văn H được áp dụng thêm khoản 2) Điều 51; Điều 17; Điều 58; các khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự:
- + Xử phạt các bị cáo Vũ Xuân L, Phạm Văn T1 và Nguyễn Văn H, mỗi bị cáo từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng, về tội “Đánh bạc”;
- + Xử phạt các bị cáo Nguyễn Duy L3, Nguyễn Văn T3 và Nguyễn Văn L5, mỗi bị cáo từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng, về tội “Đánh bạc”.
Giao bị cáo Vũ Xuân L cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Phạm Văn T1 cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện T, tỉnh Thái Bình giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Giao các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T3 và Nguyễn Văn L5 cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Bình giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Nguyễn Duy L3 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp những người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
b) Về xử lý vật chứng: Áp dụng: các điểm a và b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, b và c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 9.560.000 đồng; Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 chiếc chiếu và 01 chăn vải các bị cáo sử dụng để đánh bạc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Về việc vắng mặt những người làm chứng và người chứng kiến tại phiên tòa: giai đoạn điều tra họ đã có lời khai về những vấn đề mình biết liên quan đến vụ án. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ vẫn đảm bảo thực hiện đúng quy định tại khoản 1 Điều 293, Điều 296 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung truy tố:
[2.1] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người làm chứng trực tiếp chứng kiến các bị cáo có hành vi đánh bạc thì bị Công an bắt quả tang, phù hợp với Bản ảnh, Biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng bị thu giữ, phù hợp với những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Quá trình thu giữ, niêm phong, bảo quản và giao nhận vật chứng theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 21 giờ ngày 24/3/2024, tại tầng 2, căn số D, lô A, khu đô thị F, thuộc khu E, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Lò Văn V, Vũ Xuân L, Phạm Văn T1, Nguyễn Văn H, Nguyễn Duy L3, Nguyễn Văn T3 và Nguyễn Văn L5 đã có hành vi sử dụng 01 bộ bài tú lơ khơ để đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “Liêng”. Đến 22 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc tổng số tiền 9.560.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân và 01 chăn vải các bị cáo sử dụng để đánh bạc.
[2.2] Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định: “Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng... thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
[2.3] Các bị cáo là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa truy tố các bị cáo là có cơ sở pháp luật.
[2.4] Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng của Nhà nước. Mặc dù có hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhưng các bị cáo tụ tập rủ nhau đánh bạc có tính chất sát phạt tiền bạc của nhau để kiếm lời, không những làm thiệt hại về tài sản của chính mình và gia đình, mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh.
[2.5] Xét tính chất của đồng phạm và vai trò phạm tội của các bị cáo trong vụ án thấy: Các bị cáo cùng cố ý thực hiện một tội phạm, nhưng không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ với nhau từ trước mà chỉ nhất thời cùng phạm tội nên không phải là phạm tội có tổ chức, mà chỉ là đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo L vừa là người khởi xướng việc đánh bạc, vừa là người thực hành nên giữ vai trò chính. Bị cáo T1 là người chuẩn bị công cụ (bộ bài) và cùng các bị cáo khác trực tiếp đánh bạc nên giữ vai trò thứ hai. Các bị cáo còn lại đồng ý tiếp nhận và trực tiếp đánh bạc nên giữ vai trò sau cùng, cũng phải chịu hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của mình.
[2.6] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy: bị cáo V đã phạm tội chưa được xóa án tích, nên phạm tội lần này phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho tất cả các bị cáo. Các bị cáo: L, T1, H, L3, T3, L5 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. 02 bị cáo T1 và H có bố, mẹ là người có công với Cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng các danh hiệu cao quý (Huân chương; Bằng khen), Hội đồng xét xử áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho 02 bị cáo. Các bị cáo khác có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, có người thân là người có công với N1 nhưng không được chính quyền địa phương hoặc cơ quan có thẩm quyền xác nhận nội dung này nên không được xem xét.
[3] Về hình phạt:
[3.1] Đối với hình phạt chính: Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất của đồng phạm, vai trò thực hiện tội phạm và số tiền bỏ ra đánh bạc của từng bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Trong vụ án này, các bị cáo đều là lao động tự do, là người làm thuê theo thời vụ, không có việc làm và thu nhập ổn định, số tiền đánh bạc không lớn, thực hiện hành vi phạm tội do bột phát mà không có sự chuẩn bị, bàn bạc, câu kết chặt chẽ với nhau trước, việc đánh bạc diễn ra tại công trình đang xây dựng xa khu dân cư nên phạm vi ảnh hưởng cho xã hội không lớn. Nhưng trước đó bị cáo V đã bị xử phạt tù về tội khác, sau khi chấp hành xong hình phạt không lấy đó làm bài học cho bản thân lại tiếp tục phạm tội, nên lần này cần cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, với mức hình phạt cao nhất. Bị cáo L giữ vai trò chính, vừa là người khởi xướng, vừa là người thực hành và bị cáo T1 là người chuẩn bị bộ bài và cùng đánh bạc, có nhân thân xấu, nên 02 bị cáo phải có hình phạt ngang nhau, đứng thứ hai. Bị cáo H bỏ ra số tiền lớn hơn các bị cáo khác để đánh bạc, nhưng có bố, mẹ là người có công với Cách mạng nên phải chịu mức hình phạt chung với các bị cáo có vai trò sau không có tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Các bị cáo đang tại ngoại có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, không gây nguy hiểm cho xã hội, theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 (sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022) của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì các bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo, nên không cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú quản lý giáo dục với một thời gian thử thách phù hợp, cho các bị cáo có cơ hội làm việc, cải tạo, giáo dục, sữa chữa lỗi lầm, giúp đỡ gia đình, điều đó cũng đáp ứng được mục đích của hình phạt. Trường hợp các bị cáo vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong thời gian thử thách sẽ phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.
[3.2] Đối với hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều là lao động tự do, người làm thuê, không có thu nhập ổn định, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[4] Về vật chứng của vụ án: Số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là công cụ phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Các vật chứng khác dùng để đánh bạc là công cụ phạm tội, không còn giá trị, cần tịch thu và tiêu hủy.
[5] Về án phí: bị cáo Lò Văn V là người dân tộc thiểu số (K), sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định tại: khoản 2 Điều 4, Điều 28 Nghị định 05/2011/NĐ-CP14/01/2011 của Chính phủ, Quyết định 121/TCTK-PPCĐ ngày 02/3/1979 của Tổng cục trưởng T6, Điều 3 Quyết định số: 33/2020/QĐ-TTg ngày 12/11/2020 của Thủ tướng Chính phủ về Tiêu chí phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển giai đoạn 2021 - 2025, tiểu mục 9, mục X, Danh sách xã vùng dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Điện Biên phân định theo trình độ phát triển giai đoạn 2021 - 2025 kèm theo Quyết định số: 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, có đơn đề nghị nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Các bị cáo còn lại phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại: các khoản 1 và 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[6] Về quyền kháng cáo bản án: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, các khoản 1 và 3 Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Lò Văn V 12 (mười hai) tháng tù, về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 25 tháng 3 năm 2024).
- Căn cứ vào: khoản 1 Điều 321, các điểm i và s khoản 1, (các bị cáo Phạm Văn T1 và Nguyễn Văn H được áp dụng thêm khoản 2) Điều 51, các khoản 1 và 3 Điều 17, Điều 58, các khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
- - Xử phạt bị cáo Vũ Xuân L 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10 tháng 7 năm 2024), về tội “Đánh bạc”;
- - Xử phạt bị cáo Phạm Văn T1 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10 tháng 7 năm 2024), về tội “Đánh bạc”;
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10 tháng 7 năm 2024), về tội “Đánh bạc”;
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy L3 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10 tháng 7 năm 2024), về tội “Đánh bạc”;
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T3 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10 tháng 7 năm 2024), về tội “Đánh bạc”;
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L5 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10 tháng 7 năm 2024), về tội “Đánh bạc”.
Giao bị cáo Vũ Xuân L cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện H, tỉnh Thái Bình giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Phạm Văn T1 cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện T, tỉnh Thái Bình giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao các bị cáo Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn T3 và Nguyễn Văn L5 cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện Đ, tỉnh Thái Bình giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Duy L3 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Gia đình các bị cáo được hưởng án treo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp những người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Căn cứ vào: khoản 1, các điểm a và b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tú lơ khơ 52 quân; 01 (một) chiếc chiếu nhựa và 01 (một) chăn vải đều đã qua sử dụng; Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 9.560.000đ (chín triệu năm trăm sáu mươi nghìn đồng).
- Tình trạng những vật chứng nêu trên theo Biên bản giao vật chứng số: 202/BB-THA ngày 30 tháng 5 năm 2024 giữa Công an thành phố H và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh và Biên bản giao nhận tài sản số: 60/2024/BBBG-CQCSĐT CATP H kèm theo Phiếu nhập kho cùng ngày 10 tháng 4 năm 2024 (gói gửi số: 1433) giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh và Kho bạc Nhà nước tỉnh Q.
- Căn cứ vào: các khoản 1 và 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 3, điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:
- - Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn V.
- - Buộc các bị cáo Vũ Xuân L, Phạm Văn T1, Nguyễn Văn H, Nguyễn Duy L3, Nguyễn Văn T3 và Nguyễn Văn L5, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Căn cứ vào: khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Lâm |
Bản án số 151/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về vụ án hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 151/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: khoảng 21 giờ ngày 24/3/2024, tại tầng 2, căn số D, lô A, khu đô thị F, thuộc khu E, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Lò Văn V, Vũ Xuân L, Phạm Văn T1, Nguyễn Văn H, Nguyễn Duy L3, Nguyễn Văn T3 và Nguyễn Văn L5 đã có hành vi sử dụng 01 bộ bài tú lơ khơ để đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “Liêng”. Đến 22 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an thành phố H, tỉnh Quảng Ninh bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc tổng số tiền 9.560.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân và 01 chăn vải các bị cáo sử dụng để đánh bạc
