Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 151/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09/5/2024

V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Từ

Các Hội thẩm nhân dân: bà Bùi Thị Hoa, ông Trần Xuân Thành

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Lệ Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 09/5/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 471/2023/TLST-HNGĐ ngày 28/12/2023 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/3/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 26/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19/4/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Hoài T, sinh năm 1991. Địa chỉ: Xóm B, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • - Bị đơn: anh Ngũ Văn H, sinh năm 1985. Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Xóm D, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Hiện nay đang sinh sống và làm việc tại Slovakia. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/5/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hoài T trình bày: chị Nguyễn Thị Hoài T và anh Ngũ Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 15/4/2016 tại UBND xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp. Vợ chồng thường xuyên cãi vã, xung đột nhau trong cuộc sống nên quan hệ vợ chồng trở nên căng thẳng, tình cảm vợ chồng rạn nứt. Vợ chồng chị sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Cùng trong năm 2020, anh Ngũ Văn H đi nước ngoài. Nay, chị Nguyễn Thị Hoài T thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Nguyễn Thị Hoài T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ngũ Văn H.

Về con chung: vợ chồng có một con chung là cháu Ngũ Trọng K, sinh ngày 27/7/2017, hiện cháu đang ở với chị Nguyễn Thị Hoài T. Ly hôn, chị Nguyễn Thị Hoài T có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh Ngũ Văn H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn anh Ngũ Văn H: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu anh H có quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, cho anh Ngũ Văn H thông qua bà Phan Thị S là mẹ đẻ của anh Ngũ Văn H đồng thời tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng nêu trên tại trụ sở UBND xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An và nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam của anh H nhưng hiện tại anh Ngũ Văn H vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án.

Theo trình bày của bà Phan Thị S là mẹ đẻ của anh Ngũ Văn H thì hiện nay anh H đang làm việc tại Slovakia. Anh H thường xuyên liên lạc về với gia đình nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể của anh H để cung cấp cho Tòa án. Bà Phan Thị S đã thông báo cho anh Ngũ Văn H biết việc chị Nguyễn Thị Hoài T làm đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Ngũ Văn H tại Tòa án. Anh H có trao đổi với bà là anh H cũng đồng ý ly hôn với chị T.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong vụ án này, tuy nguyên đơn chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của bị đơn anh Ngũ Văn H mà không cung cấp được địa chỉ ở nước ngoài, nhưng thông qua lời khai của bà Phan Thị S có căn cứ xác định bị đơn vẫn liên lạc với gia đình. Gia đình đã thông báo cho bị đơn biết Tòa án đang thụ lý giải quyết yêu cầu ly hôn của chị T nhưng bị đơn vẫn không liên lạc, cũng không cung cấp địa chỉ để Tòa án tiến hành ủy thác tư pháp cho bị đơn theo quy định của pháp luật. Do đó, cần xác định đây là trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết nên có cơ sở xét xử vắng mặt bị đơn.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Hoài T. Áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị Nguyễn Thị H1 T được ly hôn với anh Ngũ Văn H. Về con chung: Đề nghị giao con chung là cháu Ngũ Trọng K, sinh ngày 27/7/2017 cho chị Nguyễn Thị Hoài T chăm sóc nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho bị đơn do nguyên đơn chưa có yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Thị Hoài T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, cần tuyên quyền khởi kiện cho đương sự khi có yêu cầu. Chị Nguyễn Thị Hoài T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ vào Công văn số 30592/QLXNC-P3 ngày 14/11/2023 của Cục Q Bộ C và lời trình bày của bà Phan Thị S là mẹ đẻ của anh Ngũ Văn H thì có căn cứ xác định hiện nay anh Ngũ Văn H đang cư trú tại nước ngoài và vẫn thường xuyên liên lạc về với gia đình. Anh Ngũ Văn H đã biết được việc chị Nguyễn Thị Hoài T làm đơn xin ly hôn đối với anh Ngũ Văn H tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An nhưng anh H không cung cấp địa chỉ và gửi văn bản trình bày ý kiến về cho Tòa án. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của anh H cũng không cung cấp địa chỉ, tin tức của anh H cho Tòa án. Do đó, việc anh Ngũ Văn H vắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh H đã được triệu tập hợp lệ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai; chị T có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hoài T và anh Ngũ Văn H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng thường xuyên cãi vã, không nói chuyện với nhau. Lâu dần thì tình cảm vợ chồng phai nhạt. Vợ chồng sinh sống mỗi người một nơi nên không có điều kiện hòa giải, hàn gắn tình cảm. Nay, chị T thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Ngũ Văn H. Thông qua lời trình bày của bà Phan Thị S, có cơ sở xác định anh H đã biết việc chị Thương yêu Tòa án giải quyết ly hôn nhưng anh H không có ý kiến gì, không liên lạc yêu cầu Tòa án hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ. Do đó, xét thấy, tình trạng hôn nhân của chị T và anh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị Nguyễn Thị H1 T được ly hôn với anh Ngũ Văn H.

[3] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Ngũ Trọng K, sinh ngày 27/7/2017, hiện cháu đang ở với chị Nguyễn Thị Hoài T. Anh Ngũ Văn H đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài, không có điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Cháu K hiện đang sống cùng với chị T ở Việt Nam. Ly hôn, chị T có nguyện vọng được nuôi con. Cháu K cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung, cũng như để ổn định sinh hoạt của cháu K cần giao cháu cho chị T tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật. Anh Ngũ Văn H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Hoài T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Hoài T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, hiện nay anh Ngũ Văn H chưa có ý kiến nên Tòa án chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.

[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hoài T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, 35, 37, 147, khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228, điểm a khoản 5 Điều 477, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Hoài T được ly hôn với anh Ngũ Văn H.
  2. Về con chung: Giao cháu Ngũ Trọng K, sinh ngày 27/7/2017 cho chị Nguyễn Thị Hoài T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Hoài T chưa yêu cầu nên Tòa án không xem xét. Anh Ngũ Văn H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hoài T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001417 ngày 14/12/2023 (anh Phạm Thế H2 nộp thay).
  5. Chị Nguyễn Thị Hoài T có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Anh Ngũ Văn H đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Hưng Đạo, huyện Hưng Nguyên;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Từ

CÁC HỘI THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bùi Thị Hoa Nguyễn Thị Thu Từ
Trần Xuân Thành
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 151/2024/HNGĐ-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 151/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị T xin ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger