|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 151/2024/DS-ST Ngày: 23-8-2024 V/v: Tranh chấp đòi lại tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Trường Chinh.
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Phước Tâm.
- 2. Bà Nguyễn Thị Phượng.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thu Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 19/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 135/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 255a/2024/QÐST-DS ngày 07 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 314a/2024/QÐST-DS ngày 02 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 398/2024/QÐST-DS ngày 01 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Trần Văn A, sinh năm 1981; Địa chỉ: A N, khóm M, Phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn A: Anh Nguyễn Trường T - sinh năm 1997; Địa chỉ: Số C đường L, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp theo văn bản ủy quyền ngày 19/12/2023 (có mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần Văn A: Ông Phạm Hoàng Đ - thuộc thành viên Chi nhánh Công ty L, thuộc đoàn luật sư thành phố H (vắng mặt).
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Bé H, sinh năm 1970; Địa chỉ: Số B, tổ F, ấp F, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/12/2023, các lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Trần Văn A ủy quyền cho anh Nguyễn Trường T trình bày như sau:
Vào ngày 10/8/2023, ông Nguyễn Văn Bé H có chuyển nhượng cho ông Trần Văn A quyền sử dụng đất thuộc thửa số 256, tờ bản đồ số 18, diện tích 247m² (đất ở: 86,3m², đất trồng cây lâu năm 160,7m²), tọa lạc tại xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp với giá là 850.000.000 đồng và được Văn phòng C1 chứng nhận ngày 10/8/2023, số công chứng 4097, quyền số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD.
Ông A đã trả xong tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa số 256 nêu trên cho ông Bé H.
Ngày 11/8/2023, ông A liên hệ Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C thông qua bộ phận một cửa để nộp hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa số 256 nêu trên theo Giấy Biên nhận tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả số 8304/BPTNTKQ.
Đến ngày 14/8/2023, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C ban hành Công văn số 3296/CNVPĐKĐĐTPCL-ĐKCG về việc trả hồ sơ chuyển nhượng của ông A, với lý do: Thửa đất có Quyết định yêu cầu tạm dừng đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng của cơ quan có thẩm quyền (Đính kèm Quyết định số 31/QĐ-CCTHADS ngày 13/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh). Do đó, hồ sơ chuyển nhượng của ông A không thể thực hiện được và bị trả ra.
Sau đó, ông A liên hệ ông Bé H để hỏi rõ việc thửa đất 256 nêu trên đã bị cơ quan thi hành án ngăn chặn thì tại sao ông Bé H lại chuyển nhượng cho ông A mà không thông báo cho ông A biết. Lúc này, ông Bé H mới nói cho ông A toàn bộ sự việc và thừa nhận khi ra công chứng sang tên đã trình bày không đúng sự thật cho ông A và Văn phòng Công chứng, đồng thời ông Bé H thừa nhận lỗi thuộc về ông.
Do đó, ngày 08/9/2023, ông A và ông Bé H thống nhất tập “Hợp đồng hủy thuế chấp quyền sử dụng đất” để hủy bỏ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2023, có nội dung:
Bên A sẽ trả lại cho bên B số tiền là 850.000.000₫ năm trăm năm mươi triệu đồng) nhưng do không đủ tiền nên bên A trả trước 350.000.000₫ (năm trăm năm mươi triệu đồng), còn 300.000.000₫ (ba trăm triệu đồng) thì hứa sẽ trả vào ngày 15/9/2023.
- Nếu như sai phạm lời hứa hoặc không trả tiền đúng như đã hẹn thì bên A chịu bởi thường gấp đôi số tiền 850.000.000 đồng, tức là 1.700.000.000 đồng (một tỷ bảy trăm triệu đồng).
Lý do hai bên lập văn bản ghi là “Hợp đồng hủy thuế chấp quyền sử dụng đất” là vì hai bên không hiểu rõ các câu từ liên quan đến pháp luật nên mới ghi sai như vậy, nhưng bản chất vẫn là hủy hợp đồng chuyển nhượng và trả lại tiền chuyển nhượng. Vì vậy, cũng ngày 08/9/2023, ông A và ông Bé H đã liên hệ Văn phòng C1 nhờ lập “Hợp đồng hủy bỏ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” cho đúng câu từ theo quy định để thống nhất hủy bỏ Hợp đồng chuyển nhượng do Văn phòng C1 chứng nhận ngày 10/8/2023, số công chứng 4097, quyền số 01/2023 TP/CC-SCC/HĐGD.
Ông Bé H đã trả tiền mặt 550.000.000 đồng trực tiếp cho ông A tại Văn phòng C1 và ông Bé H đã ký tên, ghi họ tên vào phía dưới của “Bên A” trên “Hợp đồng hủy thuế chấp quyền sử dụng đất”.
Từ ngày 15/9/2023 cho đến nay, mặc dù ông A đã rất nhiều lần yêu cầu ông Bé H trả lại số tiền 850.000.000 đồng và bồi thường bằng số tiền 850.000.000 đồng (tức 1.700.000.000 đồng) như đã cam kết tại “Hợp đồng hủy thuế chấp quyền sử dụng đất” ngày 08/9/2023 nhưng ông Bé H vẫn cố tình tránh né, không chịu trả nợ. Do đó, ông A xác định đây là lỗi hoàn toàn thuộc về ông Bé H.
Do đó, ông Trần Văn A khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh xem xét, giải quyết buộc ông Nguyễn Văn Bé H trả cho ông Trần Văn A số tiền 850.000.000 đồng và bồi thường cho ông Trần Văn A một khoản bằng số tiền 850.000.000 đồng, tức tổng cộng số tiền là 1.700.000.000 đồng (Một tỷ bảy trăm triệu đồng).
Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện của nguyên đơn xác định vào ngày 08/9/2023 ông Bé H đã trả được số tiền là 550.000.000 đồng, chỉ còn nợ lại số tiền 300.000.000 đồng và hẹn đến ngày 15/9/2023 sẽ trả hết, nếu ông H không thực hiện đúng cam kết thì phải bồi thường gấp đôi. Do đó, nguyên đơn xin thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu ông Nguyễn Văn Bé H phải có trách nhiệm trả cho ông Trần Văn A số tiền còn thiếu là 300.000.000 đồng và phải trả lãi suất cho chậm thực hiện nghĩa vụ với mức lãi suất 0,83%/tháng tính từ ngày 15/9/2023 đến ngày 23/8/2024 (11 tháng 08 ngày) với số tiền làm tròn là 28.037.000 đồng. Các nội dung khác thì phía nguyên đơn không tiếp tục yêu cầu gì đối với bị đơn.
* Bị đơn ông Nguyễn Văn Bé H đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cùng các giấy triệu tập hợp lệ nhưng đều không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không tham gia các phiên tòa xét xử của Tòa án. Vì vậy, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông H.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nên không có kiến nghị gì.
- - Về quan điểm giải quyết vụ án: Như phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm.
- * Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Xét thấy tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Trần Văn A yêu cầu ông Nguyễn Văn Bé H phải có trách nhiệm trả số tiền 300.000.000 đồng mà ông H đã cam kết xuất phát từ việc thỏa thuận hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa số 256, tờ bản đồ số 18, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Do đó, quan hệ pháp luật được xác định là Tranh chấp về đòi lại tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do các đương sự chỉ tranh chấp đối với số tiền chuyển nhượng mà không có yêu cầu xem xét đối tượng đang tranh chấp là quyền sử dụng đất, bị đơn có nơi cư trú ở xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Xét thấy bị đơn Nguyễn Văn Bé H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có người đại diện tham gia phiên tòa, đồng thời cũng không có yêu cầu phản tố hay các yêu cầu gì khác trong vụ án này; vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Tại đơn khởi kiện, ông Trần Văn A yêu cầu ông Nguyễn Văn Bé H trả số tiền 850.000.000 đồng và bồi thường cho một khoản bằng số tiền 850.000.000 đồng, tức tổng cộng số tiền là 1.700.000.000 đồng (Một tỷ bảy trăm triệu đồng). Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu ông Nguyễn Văn Bé H phải có trách nhiệm trả số tiền còn thiếu là 300.000.000 đồng và phải trả lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ với mức lãi suất 0,83%/tháng tính từ ngày 15/9/2023 đến ngày 23/8/2024 (11 tháng 08 ngày) với số tiền làm tròn là 28.037.000 đồng. Xét thấy việc nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện như trên là hoàn toàn tự nguyện, không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu và phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
[5] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Văn A, yêu cầu ông Nguyễn Văn Bé H phải có trách nhiệm trả số tiền 300.000.000 đồng (tám trăm năm mươi triệu đồng) xuất phát từ thỏa thuận của hai bên về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thuộc thửa số 256, tờ bản đồ số 18, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; ngoài ra nguyên đơn không có tranh chấp hoặc yêu cầu gì khác. Hội đồng xét xử nhận định:
[6] Căn cứ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập ngày 10/8/2023 giữa ông Nguyễn Văn Bé H và ông Trần Văn A, theo nội dung hợp đồng, ông Nguyễn Văn Bé H chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn A diện tích 247m² (86,3m² đất ở và 160,7m² đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa số 256, tờ bản đồ số 18, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, giá chuyển nhượng là 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng. Tuy nhiên, giá chuyển nhượng thực tế là 850.000.000 đồng và ông Trần Văn A đã trả tiền xong cho ông Bé H. Do đó, Hội đồng xét xử xác định hai bên đương sự có thỏa thuận với nhau về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 256 nêu trên.
[7] Khi ông Trần Văn A tiến hành thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C thì được trả lời bằng Văn bản 3296/CNVPĐKĐĐTPCL-ĐKCG ngày 14/8/2023 với nội dung thửa đất chuyển nhượng đã có Quyết định tạm dừng đăng ký, chuyển quyền sở hữu, sử dụng, thay đổi hiện trạng tài sản để đảm bảo cho việc thi hành án. Như vậy, việc chuyển quyền sử dụng đất là chưa có hiệu lực theo quy định tại Điều 503 Bộ luật dân sự.
[8] Đến ngày 08/9/2023, ông Trần Văn A và ông Nguyễn Văn Bé H tiếp tục xác lập Hợp đồng hủy bỏ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2023 được xác lập tại Văn phòng C1, số công chứng 4097, quyển số 01/2023 TP/CC/HĐGD. Tuy nhiên, trong Hợp đồng không có thỏa thuận gì đến nghĩa vụ trả lại giá trị chuyển nhượng.
[9] Nguyên đơn cho rằng hai bên không thỏa thuận nghĩa vụ trả lại giá trị chuyển nhượng trong Hợp đồng hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên là do hai bên đã thỏa thuận bằng một văn bản khác cùng ngày 08/9/2023 tại Văn phòng C1. Nội dung hai bên thỏa thuận là thống nhất hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2023 đối với diện tích đất 247m² (86,3m² đất ở và 160,7m² đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa số 256, tờ bản đồ số 18, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Lý do hủy hợp đồng chuyển nhượng là ông Bé H đã khai không đúng sự thật là mãnh đất không có sự tranh chấp nhưng thực tế mãnh đất này đang tranh chấp với bà N và Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp đang thụ lý. Đồng thời ông Nguyễn Văn Bé H cam kết sẽ trả lại cho ông Trần Văn A số tiền 850.000.000 đồng, nhưng do không đủ tiền nên ông B H trả trước số tiền 550.000.000 đồng tại phòng công chứng, số tiền còn lại là 300.000.000 đồng thì ông H sẽ trả vào ngày 15/9/2023; ông H cam kết nếu như sai phạm hoặc không trả tiền đúng như hứa hẹn thì ông H chịu bồi thường gấp đôi số tiền 850.000.000 đồng (tức là 1.700.000.000 đồng: một tỷ bảy trăm triệu đồng). Để chứng minh cho lời trình bày là có căn cứ, nguyên đơn đã giao nộp “Hợp đồng hủy thuế chấp quyền sử dụng đất” đề ngày 08/9/2023 tại Văn phòng C1. Hội đồng xét xử xét thấy lời trình bày của ông Trần Văn A là có căn cứ và phù hợp với tài liệu, chứng cứ mà ông đã giao nộp.
[10] Nguyên đơn cho rằng từ ngày thỏa thuận Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đến nay thì ông Bé H vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ trả lại số tiền 300.000.000 (ba trăn triệu) đồng. Trong quá trình Tòa án thụ lý vụ án và thu thập chứng cứ, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng, thể hiện rõ nội dung vụ án và yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn, cũng như tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn nộp kèm theo đơn khởi kiện cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được biết. Tuy nhiên, bị đơn không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án cũng như không có ý kiến phản bác, yêu cầu phản tố hay yêu cầu gì khác liên quan đến yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn, chứng tỏ bị đơn đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình và cũng không quan tâm đến nghĩa vụ đối với nguyên đơn. Do đó, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm trả lại số tiền 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng nêu trên là có căn cứ.
[11] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Văn A là phù hợp và có căn cứ nên chấp nhận. Buộc ông Nguyễn Văn Bé H phải có trách nhiệm trả lại cho ông Trần Văn A số tiền 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng.
[12] Xét yêu cầu của nguyên đơn đối với lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ, căn cứ vào “Hợp đồng hủy thuế chấp quyền sử dụng đất” đề ngày 08/9/2023 tại Văn phòng C1 thể hiện ông Nguyễn Văn Bé H có cam kết thời hạn số tiền 300.000.000 đồng vào ngày 15/9/2023 nhưng đến nay ông H vẫn chưa thực hiện nên nghĩa vụ phát sinh kể từ ngày 15/9/2023. Do ông Hai C thực hiện nghĩa vụ trả khoản tiền còn nợ 300.000.000 đồng nên ông H phải có nghĩa vụ trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại tại Điều 357 Bộ luật dân sự 2015. Các đương sự không có thỏa thuận về lãi chậm trả, đồng thời nguyên đơn yêu cầu áp dụng mức lãi suất chậm trả 10%/năm là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Hội đồng xét xử xác định hợp đồng giữa hai bên phát sinh nghĩa vụ từ ngày 15/9/2024 nhưng bị đơn chưa thực hiện nên phải chịu lãi chậm trả là 10%/năm, tương đương 0,83%/tháng. Thời gian chậm trả tính từ ngày 15/9/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 23/8/2024) là 11 tháng 08 ngày với số tiền lãi làm tròn là 28.037.000 đồng. Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn về lãi suất như trên là phù hợp nên chấp nhận; buộc ông Nguyễn Văn Bé H phải có trách nhiệm trả lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ với số tiền là 28.037.000 đồng, đồng thời bị đơn còn phải chịu lãi suất phát sinh theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong.
[12] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.
[13] Tại phiên tòa, lời đề nghị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[14] Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày tại bản luận cứ là phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 227; Điều 228 và Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 500; Điều 503; Điều 422; Điều 425 và Điều 427 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 167; Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013.
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- - Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Văn A. Buộc ông Nguyễn Văn Bé H phải có trách nhiệm trả cho ông Trần Văn A số tiền 300.000.000 đồng và lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ là 28.037.000 đồng, tổng cộng là 328.037.000 (ba trăm hai mươi tám triệu, ba mươi bảy nghìn) đồng.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- - Về án phí:
- + Buộc ông Nguyễn Văn Bé H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 16.402.000 (mười sáu triệu, bốn trăm lẻ hai nghìn) đồng.
- + Ông Trần Văn A không phải chịu án phí nên được nhận là số tiền đã nộp là 31.500.000 (ba mươi mốt triệu, năm trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0001145 ngày 04/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh.
- - Về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- - Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Trường Chinh |
Bản án số 151/2024/DS-ST ngày 23/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp về đòi lại tài sản
- Số bản án: 151/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Văn Anh. Buộc ông Nguyễn Văn Bé Hai phải có trách nhiệm trả cho ông Trần Văn Anh số tiền 300.000.000 đồng và lãi suất do chậm thực hiện nghĩa vụ là 28.037.000 đồng, tổng cộng là 328.037.000 (ba trăm hai mươi tám triệu, ba mươi bảy nghìn) đồng.
