|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG Bản án số: 151/2024/DS-PT Ngày: 27 - 8 - 2024 V/v: Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản và tranh chấp hợp đồng góp hụi. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Trịnh Thị Bích Hạnh. |
| Các Thẩm phán: | Bà Võ Thị Phượng. |
| Bà Lê Thị Thọ. |
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nhật Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang: Bà Đặng Kim Quang - Kiểm sát viên trung cấp tham gia phiên tòa.
Trong ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 163/TLPT-DS ngày 19 tháng 7 năm 2024 về việc: “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản và tranh chấp hợp đồng góp hụi”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 36/2024/DS-ST ngày 20/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 180/2024/QĐ-PT ngày 09 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Lê Thị M (Năm T), sinh năm: 1939.
Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn H, (có mặt).
-
Bị đơn: Bà Trần Thị T1 (Trần Thị Đ), sinh năm: 1972.
Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang, (có mặt).
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1972.
Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
- Người kháng cáo: Bị đơn bà Trần Thị T1 (Trần Thị Đ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và các lời khai có trong hồ sơ vụ án, đồng thời tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 26/8/2018 (âm lịch) bà Trần Thị T1 (tên thường gọi là Trần Thị Đ) có nhờ nguyên đơn mượn giùm của người khác số tiền 10.000.000 đồng, có làm biên nhận tiền, có ghi tên Trần Thị Đ vào biên nhận, lãi suất thoả thuận không có ghi vào giấy mượn tiền. Do bà T1 chưa trả số tiền đã vay, nguyên đơn yêu cầu bà T1 phải trả số tiền 10.000.000 đồng và tính lãi theo quy định là 0,833%/tháng, tính từ ngày 26/8/2019 âm lịch đến ngày xét xử sơ thẩm.
Đối với tiền nợ hụi, vào năm 2018 (âm lịch) nguyên đơn có mở hụi tháng 2.000.000 đồng, gồm 19 phần. Bà T1 tham gia và đã hốt hụi, đóng được 08 lần thì không đóng nữa, còn nợ lại 22.000.000 đồng. Thời hạn đã lâu mà bà T1 không trả nợ nên phía nguyên đơn có nhắc nhở bà T1 trả nợ nhiều lần nhưng bà T1 vẫn không trả. Tại phiên tòa hôm nay, phía nguyên đơn yêu cầu bà T1 phải trả lại cho nguyên đơn 10.000.000 đồng tiền nợ vay cùng tiền lãi và 22.000.000 đồng tiền nợ hụi.
Bị đơn bà Trần Thị T1 trình bày: Bà có tham gia chơi hụi do bà Lê Thị M làm chủ hụi như bà M trình bày. Bà có hốt hụi nhưng đã trả xong rồi, khi trả tiền thì không có làm giấy tờ hay ký nhận gì. Do không có tiền trả nên bị đơn có làm giấy bán đất (thực chất là cố đất) cho con bà M là Nguyễn Văn H nhưng không có giao đất để cấn trừ số tiền nợ bà M số tiền 70.000.000 đồng. Đối với số tiền vay thì tôi không biết, không có nhờ bà M hỏi giùm của ai. Tôi cũng không có ký tên vào các giấy biên nhận tiền gì của bà M. Do đó tôi không đồng ý với yêu cầu của bà M.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H trình bày: Đối với số tiền cố đất theo giấy bán đất ngày 08/9/2022 thì bà T1 đã trả cho tôi là 70.000.000 đồng nên không còn mua bán đất hay cố đất gì, nếu có tranh chấp hay yêu cầu gì thì ông sẽ khởi kiện thành vụ án khác, không tranh chấp trong vụ án này. Đây là vụ án tranh chấp nợ vay và nợ hụi giữa mẹ tôi là bà M và bị đơn bà T1 nên tôi không có ý kiến hay yêu cầu gì.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 36/2024/DS-ST ngày 20/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị M về việc yêu cầu bị đơn bà Trần Thị T1 (Trần Thị Đ) trả số tiền vay, nợ hụi.
Buộc bà Trần Thị T1 (Trần Thị Đ) trả cho bà Lê Thị M 15.386.700 đồng (trong đó nợ gốc là 10.000.000 đồng, nợ lãi là 5.386.700 đồng) tiền nợ vay và 22.000.000 đồng tiền nợ hụi. Tổng số tiền là 37.386.700 đồng.
Kể từ ngày người có quyền yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người bị yêu cầu thi hành án chậm trả số tiền trên thì hàng tháng còn phải trả cho nguyên đơn số tiền lãi chậm trả tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, lãi suất được áp dụng theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án theo quy định của pháp luật.
Ngày 31/5/2024, bị đơn bà Trần Thị T1 (Trần Thị Đ) có đơn kháng cáo. Nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị M.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự trình bày:
Bị đơn cho rằng không vay tiền của nguyên đơn bà Lê Thị M, đối với tiền hụi, bị đơn thừa nhận có nợ hụi của nguyên đơn nhưng đã cố đất cho ông H con bà M để trừ tiền hụi, nên không còn nợ nần gì với bà M.
Ông Nguyễn Văn H trình bày bà T1 có cố đất cho ông với giá 70 triệu đồng, ông nhận cố đất 15 tháng, ông đã đưa tiền cho bà T1 70 triệu để đi làm ăn, hiện bà T1 đã chuộc lại đất, ông đã trả đất và bà T1 đã trả lại ông 70 triệu đồng để nhận lại đất, việc cố đất giữa ông và bà T1 không liên quan gì đến số tiền nợ hụi giữa bà T1 và bà M.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang phát biểu quan điểm: Về tố tụng, từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự đã tiến hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận áp dụng khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa một phần bản án sơ thẩm về lãi suất. Đình chỉ một phần khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu rút lại 04 triệu đồng tiền nợ hụi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn bà Trần Thị T1 (Trần Thị Đ) có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về nội dung:
Xét kháng cáo của bà Trần Thị T1 đối với khoản nợ 10.000.000đồng của bà Lê Thị M, bà T1 cho rằng bà không nợ bà M số tiền này. Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ giấy nhận nợ hỏi dùm ngày 26 tháng 8 năm 2018 âm lịch (BL 24) có chữ ký của bà Trần Thị T1, tên gọi khác Trần Thị Đ đã được giám định chữ ký của V Bộ C (BL 55) đúng là của bà T1 ký ra, do vậy có căn cứ xác định bị đơn bà Trần Thị T1 (tên gọi khác Trần Thị Đ) có nhờ nguyên đơn hỏi vay dùm số tiền 10 triệu đồng và chưa trả số tiền này. Do vậy, cấp sơ thẩm buộc bị đơn trả cho nguyên đơn là có căn cứ.
Đối với số tiền nợ hụi, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả 26 triệu đồng, tại phiên tòa nguyên đơn cho rằng bị đơn còn nợ hụi của dây hụi 02 triệu đồng mở ngày 08/12/2018 âm lịch, hụi có 19 phần, bà T1 tham gia 01 phần đã hốt đầu tiên vào ngày 08/12/2018 âm lịch được 27 triệu đồng, bà T1 đóng được 08 lần, còn lại 11 lần chưa đóng với số tiền 22 triệu đồng, bà T1 thừa nhận có nợ hụi của bà M, nhưng đã cố đất cho ông H (con của bà M) để trừ tiền nợ hụi, nhưng không được bà M thừa nhận, trong tờ cố đất giữa bà T1 và ông H không thể hiện cấn trừ tiền nợ hụi, mặt khác xét thấy tiền cố đất bà T1 cho rằng 70 triệu đồng, trong khi bà T1 chỉ còn nợ lại 22 triệu đồng là không có căn cứ.
Việc nợ hụi của bà M và cố đất của ông H là hai quan hệ khác nhau, nếu có tranh chấp về cố đất thì bà T1 có quyền khởi kiện ông H trong vụ án khác.
Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ hụi là 26.000.000 đồng, tuy nhiên tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu bị đơn trả 22.000.000 đồng, cấp sơ thẩm không đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có thiếu sót nên cấp phúc thẩm điều chỉnh lại.
Từ những nhận định trên, xét kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị T1 (tên gọi khác Trần Thị Đ) là không có căn cứ chấp nhận, chấp nhận ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện mà nguyên đơn đã rút đối với số tiền 4.000.000 đồng.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị T1 (tên gọi khác Trần Thị Đ).
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị M về việc yêu cầu bị đơn bà Trần Thị T1 (Trần Thị Đ) trả số tiền nợ vay và nợ hụi.
Buộc bà Trần Thị T1 (Trần Thị Đ) trả cho bà Lê Thị M số tiền còn nợ là 37.386.700đồng (trong đó nợ gốc là 10.000.000 đồng, nợ lãi của tiền vay là 5.386.700đồng và 22.000.000 đồng tiền nợ hụi).
Kể từ ngày người có quyền yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu người bị yêu cầu thi hành án chậm trả số tiền trên thì hàng tháng còn phải trả cho nguyên đơn số tiền lãi chậm trả tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán, lãi suất được áp dụng theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Trần Thị T1 phải chịu 1.869.335 đồng.
- Chi phí giám định chữ viết bà Trần Thị T1 phải chịu là 2.811.000 đồng, bà T1 đã nộp xong.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trần Thị T1 phải chịu 300.000đồng, chuyển tiền tạm ứng án phí kháng cáo theo biên lai thu số 0003036 ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành thành án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 27/8/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Bích Hạnh |
Bản án số 151/2024/DS-PT ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp về hợp đồng vay tài sản và tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 151/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản và tranh chấp hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa bản án sơ thẩm.
