TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 151/2024/DS-PT Ngày: 15/4/2024 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất và đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải
Các Thẩm phán: Bà Võ Bích Hải
Bà Nguyễn Thị Trang Thư.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 26/2024/TLPT-DS ngày 05 tháng 3 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 177/2023/DS-ST ngày 15 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 126/2024/QĐ-PT ngày 18 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Ngọc Đ, sinh năm 1970; địa chỉ: Số D N, tổ F, khóm B, phường T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thái T. Địa chỉ: Số B đường số D, KDC H, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (Theo văn bản Ủy quyền ngày 14/02/2023).
Bị đơn:
- Ông Chung Văn Ý.
- Ông Chung Văn T1.
- Ông Chung Toại N.
Cùng địa chỉ: Tổ I, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị Thu L; địa chỉ: Số D N, tổ F, khóm B, phường T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
- Ngân hàng TMCP N1.
Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP N1: Bà Tăng Thị Hồng S, sinh năm 1975; địa chỉ liên hệ: Số C - C V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Chung Văn T1, ông Chung Văn Ý, ông Chung Toại N.
NỘI DUNG VỤ KIỆN:
Nguyên đơn ông Lê Ngọc Đ trình bày: Ngày 20/12/2019, nguyên đơn được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT378303; Số vào sổ cấp GCN CS18018; thuộc thửa đất số 1303; Tờ bản đồ số 34; Diện tích 92,8m²; Tọa lạc tại khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Tại phần đất này, nguyên đơn có căn nhà cấp 4 do căn nhà đã xuống cấp nên nguyên đơn đã thực hiện việc xây dựng sửa chữa lại căn nhà và được Ủy ban nhân dân quận N cấp Giấy phép Xây dựng số 979/GPXD ngày 30/11/2022. Trong quá trình xây dựng sửa chữa căn nhà, phía bị đơn ông Chung Văn Ý, ông Chung Văn T1 và ông Chung Toại N đã có hành vi cản trở, ngăn cản nguyên đơn thực hiện các quyền sử dụng phần đất.
Ngày 07/10/2022, nguyên đơn đã ký kết hợp đồng xây dựng với phía Công ty TNHH X theo Hợp đồng số 17/2022/HĐ-TCXD, giá trị hợp đồng thi công công trình là 975.000.000 đồng, nguyên đơn ông Đ đã thanh toán trước 250.000.000 đồng, tuy nhiên trong quá trình thi công phía các bị đơn đã có hành vi cản trở, ngăn cản và tự ý xô ngã các trụ cột bê tông mới đổ. Từ đó, ảnh hưởng đến việc thi công không thể tiếp tục thực hiện nên ngày 19/12/2022 giữa ông Đ và Công ty TNHH X đã thanh lý hợp đồng thi công xây dựng. Đồng thời, ông Lê Ngọc Đ phải bồi thường cho Công ty TNHH X số tiền 250.000.000 đồng.
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu:
- - Buộc phía bị đơn chấm dứt việc cản trở sử dụng đất hợp pháp của nguyên đơn;
- - Buộc phía bị đơn phải bồi thường thiệt hại với số tiền là 250.000.000 đồng do hành vi ngăn chặn cản trở việc sử dụng đất của nguyên đơn.
Phía các bị đơn ông Chung Văn Ý, ông Chung Văn T1 và ông Chung Toại N thống nhất trình bày: Phía bị đơn đang sử dụng lối đi mà ông Đ cho rằng thuộc quyền sử dụng của ông Đ. Lối đi này được hình thành từ năm 1985 cho đến nay, do ông Nguyễn Hữu C cho ông Chung Văn M đắp đất làm lối đi, có chiều rộng 02m từ đầu đất đến cuối đường Cái Sơn Hàng B, hiện nay là đường H, cạnh ranh đất giáp với ông Trần Chí Đ1. Đến năm 2002, có người đến rào lối đi không cho đi và đã xảy ra tranh chấp với gia đình bị đơn. Sau đó, ông Nguyễn Sĩ Đ2 có đến gặp thỏa thuận với ông Chung Văn Ý và các bên đã làm tờ giao ước có nội dung là để cho ông Ý lối đi 01m với điều kiện khi ông Đ2 có yêu cầu thì ông Ý phải ký giáp ranh và khi ông Đ2 bán đất phải chừa lại lối đi 01m cho ông Ý.
Phía các bị đơn không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì cho rằng phần đất có chiều ngang 01 m này có thỏa thuận với ông Nguyễn Sỹ Đ3 làm lối đi cho các hộ phía sau. Vì vậy, bị đơn xây dựng phần nhà nằm trên lối đi của các bị đơn, đôi bên có xảy ra tranh cãi vì vậy phía bị đơn không đồng ý cho nhà thầu thi công tiếp. Ngày 24/11/2022, tại UBND phường A (có ký biên bản tại phường) phía ông T1 có đưa ra tờ giao ước với ông Đại đ được giải quyết. ông Đ cũng công nhận có tồn tại lối đi và có bắt tay xin lỗi với bị đơn. Các bị đơn không cản trở việc xây dựng nhà của ông Đ nhưng yêu cầu ông Đ chỉ được xây dựng nhà đúng ngay vị trí cũ đã xây dựng nhưng không được phép lấn sang hẻm làm hẹp và cản trở lối đi của bị đơn. Nếu ông Đ khẳng định phần lối đi này nằm trong giấy và thuộc quyền sở hữu của ông Đ thì yêu cầu ông Đ phải mời ông Đ3, ông M1 và bà T2 ra đối chất với các bị đơn vì ông Đ3 là người đại diện cho bà T2 làm tờ giao ước với ông Chung Văn Ý và ông M1 là người đứng ra xây dựng nhà và xác định ranh với ông Chung Văn Ý.
Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử. Tại Bản án số 177/2023/DSST ngày 15/8/2023 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã tuyên xử:
- - Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Ngọc Đ. Buộc bị đơn ông Chung Văn Ý, ông Chung Văn T1 và ông Chung Toại N chấm dứt hành vi cản trở vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của nguyên đơn tại thửa đất số 1303; Thuộc tờ bản đồ số 34; Tọa lạc tại khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT378303; Số vào sổ cấp GCN CS18018 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 20/12/2019 cho ông Lê Ngọc Đ (Vị trí A theo Bản trích đo địa chính số 376/TTKTTNMT của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 26/4/2023) thuộc quyền sử dụng đất của ông Lê Ngọc Đ;
- - Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Chung Văn Ý, ông Chung Văn T1 và ông Chung Toại N bồi thường số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về tiền án phí dân sự sơ thẩm, chi phí thẩm định và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã tuyên xử ông Chung Văn T1, ông Chung Văn Ý, ông Chung Toại N đã kháng cáo bản án trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Thái T đại diện ủy quyền cho ông Lê Ngọc Đ trình bày: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đ được cấp là đúng trình tự thủ tục theo quy định pháp luật. Chính ông Ý đã ký vào hồ sơ địa chính cho bà T2 để bà T2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà T2 và ông Đ là đúng quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với các bị đơn. Nguyên đơn đồng ý với bản án sơ thẩm và yêu cầu giữ y án sơ thẩm.
Phía các bị đơn trình bày: Yêu cầu xác định đây là con hẻm công cộng. Nguyên đơn có hứa tại Ủy ban nhân dân phường A là trả lại cho các bị đơn 01 mét chiều ngang. Các bị đơn không chiếm đất của nguyên đơn. Các bị đơn đã sử dụng lối đi này từ năm 1985 đến nay. Bà T2 chuyển nhượng đất cho nguyên đơn các bị đơn hoàn toàn không hay biết. Ông Đ3 đã hứa chừa ra 01 mét làm lối đi nên các bị đơn mới ký tên để bà T2 làm hợp thức hóa. Các bị đơn yêu cầu được được tiếp tục sử dụng lối đi này.
Vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Ý, ông T1 và ông N phải chấm dứt hành vi cản trở, ngăn cản nguyên đơn thực hiện đối với các quyền sử dụng đất hợp pháp của nguyên đơn tại thửa đất số 1303; Thuộc tờ bản đồ số 34;Diện tích 92,8m²; Tọa lạc tại khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ, theo giấy CNQSDĐ số CT378303; Số vào sổ cấp GCN CS18018 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 20/12/2019 cho ông Lê Ngọc Đ.
Nhận thấy, theo Bản trích đo địa chính số 376/TTKTTNMT của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C thể hiện phần đất đang tranh chấp tại vị trí Acó diện tích 13,8m² (Có 3,2m² trong lộ giới) ông Đ đứng tên giấy CNQSDĐ. Theo giấy CNQSDĐ của ông Đ được cấp thì mặt giáp đường H có chiều dài 5m nhưng thực tế xây nhà 4m, lối đi 0,9m mặt phía sau theo giấy 5m nhưng thực tế phần nhà 4m lối đi tranh chấp 1m, lối đi đang tranh chấp vị trí A thuộc quyền sử dụng đất của nguyên đơn là phù hợp.
Bên cạnh đó, căn cứ Giấy phép xây dựng số 979/GPXD ngày 31/11/2022 nguyên đơn được cấp giấy phép đối với công trình trên đất. Bị đơn cho rằng, phần đất tranh chấp là lối đi chung của bị đơn vì trước kia ông Nguyễn Sĩ Đ2 đã làm tờ giao ước cho phía bị đơn đi lối đi 1m. Tuy nhiên, tại UBND phường A khi hòa giải thì ông Đ thống nhất lối đi này. Phần đất tranh chấp có nguồn gốc ông Đ nhận chuyển nhượng của bà Hà Thị Tư . Hiện tại, ông Đ đang đứng tên giấy CNQSDĐ số số CT378303; Số vào sổ cấp GCN CS18018 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 20/12/2019, hiện nay đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP N1. Bà T2 và vợ chồng ông Đ, bà L không cam kết lối đi 01m cho phía bị đơn. Trường hợp, phía nguyên đơn tại buổi hòa giải ở UBND phường A có ý kiến cho tồn tại lối đi nhưng lại nộp đơn khởi kiện tại Tòa án, yêu cầu giải quyết tranh chấp là quyền của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm phía bị đơn trình bày phần đất tranh chấp ngang 1 mét dài hơn 14,5 mét phía bị đơn sử dụng từ trước đến nay, chứ không phải đất thuộc quyền sở hữu của bị đơn và không được chính quyền địa phương thừa nhận bằng văn bản pháp lý. Nguyên đơn cho rằng nguồn gốc đất mua của bà Huỳnh Thị T3 và đã được cấp giấy CNQSDĐ hợp pháp theo diện tích đất chuyển nhượng. Đối với thỏa thuận theo giao ước ngày 11/7/2002 thì phía bị đơn có thỏa thuận với ông Đ2 không phải chủ sở hữu hợp pháp nên thỏa thuận là không căn cứ. Ngoài ra, phía bị đơn không phải là cấp thiết về lối đi và còn lối đi khác là Rạch Cái S1.
Do đó, yêu cầu phản bác của bị đơn ông Ý, ông T1, ông N về lối đi trên là không có cơ sở, yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn chấm dứt hành vi cản trở, vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của nguyên đơn là có cơ sở, theo khoản 5, khoản 7 Điều 166 Luật Đất đai.
Từ những chứng cứ và phân tích nêu trên có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đối với kháng cáo không có căn cứ nên không chấp nhận.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1, Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Giữ y bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định nên được xem xét.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn nhận thấy: theo Bản trích đo địa chính số 376/TTKTTNMT của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C thể hiện phần đất đang tranh chấp tại vị trí A có diện tích 13,8m² (Có 3,2m² trong lộ giới) ông Lê Ngọc Đ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đất ông Đ được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giáp đường H có chiều dài 5m, không thể hiện lối đi công cộng 1m trên phần đất của ông Đ. Hội đồng xét xử xét thấy, lối đi theo bị đơn trình bày là không có vì không thể hiện trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cả nguyên đơn và các bị đơn. Các bị đơn cho rằng có thỏa thuận với ông Nguyễn Sỹ Đ3 về lối đi này nhưng xét thấy ông Đ3 không đứng tên quyền sử dụng đất và thỏa thuận này (nếu có) cũng không phù hợp với quy định pháp luật vì không có chính quyền địa phương xác nhận, công chứng, hay chứng thực cho việc thỏa thuận này. Phía các bị đơn đã có lối đi khác nên vị trí tranh chấp này không phải đường công cộng. Chính quyền địa phương cũng không có văn bản nào thể hiện lối đi công cộng trên đất ông Đ. Các bị đơn cũng không có chứng cứ nào chứng minh mình có quyền lợi trên phần đất tranh chấp nhưng lại tranh chấp, cản trở nguyên đơn thực hiện quyền sở hữu của mình. Do đó, nguyên đơn khởi kiện buộc các bị đơn chấm dứt hành vi cản trở việc sử dụng quyền sử dụng đất là có cơ sở.
Hơn nữa, theo giấy phép xây dựng số 979/GPXD ngày 31/11/2022 nguyên đơn được cấp giấy phép đối với công trình trên đất. Bị đơn cho rằng, phần đất tranh chấp là lối đi chung của các bị đơn vì trước kia ông Nguyễn Sĩ Đ2 đã làm tờ giao ước cho phía các bị đơn đi lối đi 1m.
Xét thấy, việc thỏa thuận giữa ông Đ2 và các bị đơn là không đúng quy định pháp luật vì ông Đ2 không phải là chủ sử dụng đất mà là bà T3 mới là chủ sử dụng đất. Hiện tại, ông Đ đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT378303; Số vào sổ cấp GCN CS18018 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 20/12/2019, hiện nay đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP N1. Bà T3 và vợ chồng ông Đ, bà L không cam kết lối đi 01m cho phía các bị đơn. Do đó, yêu cầu phản bác của ông Chung Văn Ý, Chung Văn T1 và ông Chung Toại N về lối đi trên là không có cơ sở, yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn chấm dứt hành vi cản trở, vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của nguyên đơn là có cơ sở, theo khoản 5, khoản 7 Điều 166 Luật Đất đai. Bản án sơ thẩm tuyên là có cơ sở nên giữ nguyên.
Đối với yêu cầu của nguyên đơn đòi bị đơn bồi thường thiệt hại số tiền 250.000.000 đồng, tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn đồng ý rút lại yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu bị đơn bồi thường 250.000.000 đồng do hành vi cản trở việc xây dựng của nguyên đơn. Tòa án cấp sơ thẩm đã đình chỉ nên cấp phúc thẩm không đặt ra xem xét và giải quyết.
[3] Về chi phí thẩm định: Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về chi phí thẩm định. Nguyên đơn đã nộp xong.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Do ông Chung Văn Ý, ông Chung Toại N quá 60 tuổi nên được miễn án phí, ông Chung Văn T1 chịu 300.000 đồng án phí. Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn nộp thay bị đơn, nguyên đơn được nhận lại tạm ứng án phí, sau khi khấu trừ 300.000 đồng nộp thay ông Chung Văn T1.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Chung Văn T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu số 0000060 ngày 05/9/2023 tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Ninh Kiều thành tiền án phí. Ông T1 đã nộp xong. Các ông Chung Như Ý1, ông Chung Toại N là người cao tuổi nên được miễn.
[6] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát phú hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 2 và khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 92, Điều 147, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 166 và Điều 170 Luật Đất đai năm 2013;
- - Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Chung Văn Ý, ông Chung Văn T1, ông Chung Toại N. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Ngọc Đ.
Buộc bị đơn ông Chung Văn Ý, ông Chung Văn T1 và ông Chung Toại N chấm dứt hành vi cản trở vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của nguyên đơn tại thửa đất số 1303; Thuộc tờ bản đồ số 34; Tọa lạc tại khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CT378303; Số vào sổ cấp GCN CS18018 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 20/12/2019 cho ông Lê Ngọc Đ (Vị trí A theo Bản trích đo địa chính số 376/TTKTTNMT của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 26/4/2023) thuộc quyền sử dụng đất của ông Lê Ngọc Đ.
Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Chung Văn Ý, ông Chung Văn T1 và ông Chung Toại N bồi thường số tiền 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng).
Về chi phí thẩm định: Nguyên đơn chịu 5.000.000 (Năm triệu đồng), nguyên đơn được khấu trừ vào tiền tạm ứng chi phí thẩm định đã nộp, đã chi xong.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Lê Ngọc Đ chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), ông Đ được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai số 0000411 ngày 12/12/2022 và biên lai số 0000551 ngày 10/01/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Ninh Kiều, ông Lê Ngọc Đ được nhận lại 6.250.000 đồng (Sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Chung Văn T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Chuyển tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm theo biên lai thu số 0000060 ngày 05/9/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận N thành tiền án phí. Ông T1 đã nộp xong. Các ông Chung Văn Ý, ông Chung Toại N là người cao tuổi nên được miễn.
Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hải |
Bản án số 151/2024/DS-PT ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất và đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
- Số bản án: 151/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ tranh chap QSDĐ và doi BTTH ngoai HĐ voi BĐ
