Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ ĐĂNG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 151/2023/HSST

Ngày: 29/11/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Đức Hòa
  2. Bà Lê Thị Thận.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thế Vinh – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh - Kiểm sát viên.

Hôm nay ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 131/2023/HSST ngày 17 tháng 10 năm 2023, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Triệu Thanh T, tên gọi khác: Không; giới tính: N, sinh năm: 1996, tại Cao Bằng.

HKTT: Thôn 1, xã Đường 10, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

Nơi cư trú: Thôn S (Tiểu khu A), xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước.

Nghề nghiệp: Làm rẫy, Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Tin Lành; Số định danh cá nhân: 070096008181. Con ông Triệu Văn T1 và bà Triệu Thị L; Bị cáo có 02 anh em ruột, bị cáo là con lớn trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/6/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

2. Họ và tên: Triệu Quốc K, tên gọi khác: Không; giới tính: N, sinh năm: 1998, tại Cao Bằng.

HKTT: Thôn 1, xã Đường 10, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

Nơi cư trú: Thôn S (Tiểu khu A), xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước.

Nghề nghiệp: Làm rẫy, Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Dao, Tôn giáo: Tin Lành; Số định danh cá nhân: 070098005677. Con ông Triệu Văn T1 và bà Triệu Thị L; Bị cáo có 02 anh em ruột, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/6/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

- Người bị hại: Bà Triệu Thị T2, sinh năm 1982. (Vắng mặt)

HKTT: Thôn A, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

Nơi cư trú: Thôn S (Tiểu khu A), xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Phạm Thị Bích T3, sinh năm 1980. (Vắng mặt)

HKTT: Thôn Đăk Wi, xã Đắk Nhau, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước

Địa chỉ: Tổ 29 (ngã ba Kênh), thôn Sơn Phú, xã Phú Sơn, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

  1. Ông Triệu Văn T1, sinh năm 1973 (Có mặt)

HKTT: Thôn A, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.

Nơi cư trú: Thôn S (Tiểu khu A), xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước.

  1. Cầm Ngọc Q, sinh năm 2005. (Vắng mặt)

HKTT: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài, nên Triệu Thanh T rủ em ruột là Triệu Quốc K đi trộm cắp tài sản thì K đồng ý. Khoảng 12 giờ ngày 03/4/2023, T điều khiển xe Mô tô biển kiểm soát 93H1 - 115.08 (xe của ông Triệu Văn T1 là bố ruột của KT mua của một người không xác định được nhân thân, lý lịch) chở K đến Tiểu khu A thuộc xã P, huyện B vào chòi rẫy của chị Triệu Thị T2 lấy 01 xe mô tô hiệu Wave RSX màu đỏ đen, không có biển số chạy đến “Làng M" xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông nhờ Cầm Ngọc Q, sinh năm 2005, nơi thường trú: Thôn Đ, xã Đ mang đi bán được 2.500.000 đồng, K cho Q 500.000đồng.

Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 04/4/2023, T điều khiển xe Mô tô biển kiểm soát 93H1 - 115.08 chở K tiếp tục vào chòi rẫy của chị Triệu Thị T2 lấy trộm được 45kg hạt điều tươi mang bán cho bà Phạm Thị Bích T3 được 1.000.000 đồng.

Vào khoảng 11 giờ ngày 07/4/2023 và khoảng 12 giờ 10 phút ngày 10/4/2023, TK tiếp tục vào chòi rẫy của chị T2 lấy trộm 40kg hạt điều tươi và 45 kg hạt điều tươi mang bán cho bà T3 mỗi lần được 1.000.000 đồng, tổng cộng là 2.000.000 đồng. Ngày 23/6/2023, TK đến Công an huyện B đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Quá trình điều tra, truy tố Triệu Tranh T4Triệu Quốc K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nêu trên.

Kết luận định giá số: 33/KL-ĐG ngày 15/5/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận:

+ Giá 45kg hạt điều tươi tại thời điểm xảy ra tội phạm ngày 04/4/2023 là: 45kg x 24.000 đồng/kg = 1.080.000 đồng;

+ Giá 40kg hạt điều tươi tại thời điểm xảy ra tội phạm ngày 07/4/2023 là: 40kg x 22.000 đồng/kg = 880.000 đồng;

+ Giá 45kg hạt điều tươi tại thời điểm xảy ra tội phạm ngày 10/4/2023 là: 45kg x 22.000 đồng/kg = 990.000 đồng.

Tổng cộng 3 lần là: 2.950.000 đồng.

Tại Kết luận định giá số: 62 ngày 30/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự (BL: 76), kết luận tại thời điểm xảy ra tội phạm: 01 xe mô tô Wave RSX màu đỏ đen có giá trị là 2.300.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số: 135/CTr -VKS ngày 16/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố các bị cáo Triệu Tranh T4 và bị cáo Triệu Quốc K về “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố khẳng định nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, nên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm “Tội trộm cắp tài sản”; Về hình phạt đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Triệu Tranh T4 và bị cáo Triệu Quốc K từ 05 tháng 15 ngày đến 06 tháng tù; buộc các bị cáo nộp án phí theo quy định; đề nghị tuyên trả lại cho ông Triệu Văn T1 xe Mô tô Honda Wave RSX; BKS: 93H1-115.08.

Tại phiên tòa các bị cáo Triệu Tranh T4Triệu Quốc K thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố; Không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ông Triệu Thanh T5, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tuyên trả lại cho ông chiếc xe Mô tô BKS: 93H1-115.08 để làm phương tiện đi lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện B, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Khoảng 12 giờ ngày 03/4/2023, Triệu Thanh T điều khiển xe Mô tô biển kiểm soát 93H1 - 115.08 chở em ruột là Triệu Quốc K đến chòi rẫy của chị Triệu Thị T2 là cô ruột của hai bị cáo ở thôn S (khu vực Tiểu khu A), xã P, huyện B lấy 01 xe Mô tô hiệu Wave RSX màu đỏ đen, không gắn biển số rồi điều khiển đến “Làng M" xã Đ, huyện T, tỉnh Đắk Nông nhờ Cầm Ngọc Q mang đi bán được 2.500.000 đồng, K cho Q 500.000 đồng. Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 04/4/2023, T điều khiển xe Mô tô biển kiểm soát 93H1 - 115.08 chở K tiếp tục vào chòi rẫy của chị Triệu Thị T2 lấy trộm được 45kg hạt điều tươi mang bán cho bà Phạm Thị Bích T3 được 1.000.000 đồng. Vào khoảng 11 giờ ngày 07/4/2023 và khoảng 12 giờ 10 phút ngày 10/4/2023, TK tiếp tục vào chòi rẫy của chị T2 lấy trộm 40kg hạt điều tươi và 45 kg hạt điều tươi mang bán cho bà T3 mỗi lần được 1.000.000 đồng, tổng cộng là 2.000.000 đồng. Ngày 23/6/2023, TK nhận thức được hành vi phạm tội của mình nên đến Công an huyện B đầu thú.

Như vậy, hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo phạm tội có có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhưng vì lười lao động muốn có tiền tiêu xài nên đã phạm tội; Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, nên cần xử các bị cáo mức án nghiêm để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo TK phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự; Sau khi phạm tội các bị cáo đã đầu thú, là người đồng bào dân tộc thiểu số nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sư quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Trong vụ án hai bị cáo cùng thực hiện hành vi trộm cắp và đưa tài sản đi tiêu thụ, nhưng bị cáo T là người khởi xướng nên cần xử bị cáo mức án cao hơn bị cáo K đảm bảo tính công bằng của pháp luật. Cả hai bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tặng nặng, đã bị tạm giam một thời gian, tỏ ra ăn năn hối cải, nên xem xét xử bị cáo T ở mức thấp của khung hình phạt; áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự xử bị cáo K dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và trong khung hình phạt liền kề thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Đối với bà Phạm Thị Bích T3 do không biết số hạt điều mua của hai bị cáo là tài sản do phạm tội mà có; Viện kiểm sát không đề cập xử lý, nên không xem xét.

Đối với Cầm Ngọc Q là người bán hộ xe cho TK. Quá trình điều tra chưa làm việc được với Q; Cơ quan CSĐT - Công an huyện B tách ra xác minh, xử lý sau, nên không xem xét xử lý trong vụ án này.

Đối với ông Triệu Văn T1 quá trình điều tra xác định không biết Triệu Thanh TTriệu Quốc K sử dụng xe mô tô của ông làm phương tiện đi trộm cắp tài sản nên không có căn cứ xử lý.

[5] Về vật chứng vụ án:

- 01 xe Mô tô hiệu Wave RSX màu đỏ đen, không có biển số của chị Triệu Thị T2, TK nhờ Cầm Ngọc Q bán cho người khác không xác định được nhân thân, lý lịch; chưa làm việc được với Q không thu hồi được nên không đặt ra.

- 01 xe Mô tô, màu nâu; Nhãn hiệu: Honda Wave RSX; Số khung: RLHJC529XDY 011423; Số máy: JC52E1163491; Dung tích xi lanh: 110cm³; BKS: 93H1-115.08. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu xe là ông Lý Tiến C; địa chỉ: Thôn A, xã L, huyện B, tỉnh Binh Phước mua năm 2014, đến năm 2016 bán cho 01 người tên T khoảng 40 tuổi nhưng không làm thủ tục sang tên, năm 2020 ông Triệu Văn T1 mua lại của 01 người tên T với giá 5.000.000đ để làm phương tiện đi làm rẫy, nhưng cũng không làm thủ tục sang tên; quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã thông báo truy tìm chủ sở hữa nhưng không có người khác đến cung cấp thông tin; Như vậy, có căn cứ xác định xe thuộc quyền sở hữu của ông Triệu Văn T1; Ông T1 là bố của bị cáo T và bị cáo K. Các bị cáo sử dụng xe làm phương tiện đi trộm cắp tài sản ông T1 không biết, nên cần trả lại xe cho ông Triệu Văn T1 làm phương tiện đi lại là phù hợp.

[6] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Người bị hại không yêu cầu bồi thường nên không giải quyết.

[7] Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Quan điểm xử lý vụ án của Đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Triệu Thanh T và bị cáo Triệu Quốc K phạm “Tội trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Triệu Tranh T4 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/6/2023.

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 54 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Triệu Quốc K 05 (năm) tháng 15 (mười lăm) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/6/2023.

2. Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015; Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; trả lại cho ông Triệu Văn T1 01 xe Mô tô, màu nâu; Nhãn hiệu: Honda Wave RSX; Số khung: RLHJC529XDY 011423; Số máy: JC52E1163491; Dung tích xi lanh: 110cm³; BKS: 93H1-115.08; không có bửng, không đèn chiếu hậu, không có dàn mủ nhựa đầu xe. (Theo biên bản giao nhận vật chứng số: 0010094 ngày 30/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước).

3. Về Án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Triệu Quốc K và bị cáo Triệu Quốc K mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - Công an tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Bù Đăng;
  • - CCTHADS huyện Bù Đăng;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hs.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Văn Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 151/2023/HSST ngày 29/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 151/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án hình sự về Tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger