Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số 151/2023/HSST

Ngày 21/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Anh
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cơ
  • Ông Ngô Văn Sỹ

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngô Khánh Loan - Thư ký Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Luận - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm: Hội trường xét xử hình sự Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu và điểm cầu thành phần: Trại tạm giam Công an thành phố Đ, Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 152/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Hồng N - sinh ngày 04 tháng 8 năm 1979 tại TP .; nơi cư trú: Tổ A, phường T, quận T, TP .; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn Đ (Đã chết) và bà Lê Thị Â (Đã chết);

Tiền án; Tiền sự: Không có;

Nhân thân: Ngày 20/11/2023 bị Công an quận L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 783/QĐ-XPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, phạt tiền 1.500.000 đồng.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 25/9/2023, bị tạm giữ ngày 25/9/2023, tạm giam ngày 04/10/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Đ. (Có mặt)

Người làm chứng: Ông Nguyễn Công H – sinh năm 1985; nơi cư trú: Tổ A, phường H, quận L, TP .. (Vắng mặt)

1

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trưa ngày 25/9/2023, Nguyễn Thị Hồng N uống cà phê tại quán nước trước B thành phố Đà Nẵng. Tại đây, N gặp một người bạn quen biết ngoài xã hội tên T (chưa rõ lai lịch) và được T cho 01 gói ma túy tổng hợp (loại hàng đá). Đến khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày, N đem gói ma túy được cho đi bộ đến đường H (thuộc phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng) để tìm địa điểm sử dụng, khi đến trước số nhà A đường H thì bị Đội CSĐT tội phạm về ma túy Công an quận L phối hợp với Công an phường H tiến hành kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Thị Hồng N Qua kiểm tra phát hiện tại vị trí dưới đất nơi N đang đứng có 01 gói nylon, bên trong có chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy). N khai nhận gói nylon chứa tinh thể màu trắng là ma túy đá N cất giấu mục đích để sử dụng, khi thấy lực lượng Công an kiểm tra thì N vứt ma túy xuống đất để phi tang nhưng bị phát hiện thu giữ.

Tang vật thu giữ gồm:

  • + 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể màu trắng, nghi là ma túy, đã được niêm phong theo quy định (ký hiệu A);
  • +01 điện thoại di động hiệu S A12 gắn thẻ sim số 0767263159.

Tại Kết luận giám định số: 830/KL-KTHS ngày 02/10/2023 của Phòng K Công an thành phố Đ kết luận: tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng là 0,211gam.

Tại Cáo trạng số 160/CT-VKS ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Nguyễn Thị Hồng N về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Thị Hồng N từ 15 (Mười lăm) đến 18 (Mười tám)tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

  • - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ chất ma túy còn lại sau khi giám định.
  • - Quy trữ 01 điện thoại di động hiệu Samsung A12 gắn thẻ sim số 0767263159 của N để đảm bảo thi hành án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2

[2] Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị Hồng N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và tang vật thu giữ được. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định:

Vào ngày 25/9/2023, tại trước số nhà A đường H, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Thị Hồng N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,211gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng..Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo N là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức rõ ma tuý gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sự phát triển nòi giống của dân tộc, ma tuý là tệ nạn xã hội và là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác nhưng cố ý mua ma túy về để sử dụng. Do đó, hội đồng xét xử thấy cần thiết xử phạt bị cáo hình phạt tù, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[4] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đồng thời, áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, HĐXX quyết định phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị Hồng N số tiền 5.000.000 đồng.

[5] Xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đề nghị là phù hợp với nhân thân, tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra nên hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Đối với người thanh niên tên T đã cho bị cáo N gói ma túy, hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xử lý sau.

[7] Bị cáo Nguyễn Thị Hồng N sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an quận L đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật.

[8] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Đối với toàn bộ chất ma túy còn lại sau khi giám định cần tịch thu, tiêu hủy.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu S A12 gắn thẻ sim số 0767263159 của N không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần quy trữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

3

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hồng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".

    Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng N 01(Một) năm 03 (Ba) tháng. tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 25 tháng 9 năm 2023.

    Phạt bổ sung bị cáo N số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng)

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tuyên:

    • - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ chất ma túy còn lại sau khi giám định.
    • - Quy trữ 01 điện thoại di động hiệu Samsung A12 gắn thẻ sim số 0767263159 của N để đảm bảo thi hành án.

    (Hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 12 năm 2023)

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

    Buộc bị cáo Nguyễn Thị Hồng N phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kê từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Đà Nẵng;
  • - VKSND. quận Liên Chiểu;
  • - Công an quận Liên Chiểu;
  • - Chi cục THA. quận Liên Chiểu;
  • - Trại tạm giam CATP. Đà Nẵng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Tấn Anh

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 151/2023/HSST ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 151/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào ngày 25/9/2023, tại trước số nhà A đường H, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Thị Hồng N đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,211gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger