Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

Bản án số: 151/2023/HS-PT

Ngày: 25/8/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Quốc Thành

Các Thẩm phán: Ông Hà Huy Hùng.

Ông Đào Anh Đức.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Lan - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 189/2023/TLPT-HS ngày 28 tháng 7 năm 2023 đối với các bị cáo Đậu Văn L, Phạm Xuân TNguyễn Văn T1 do Bản án sơ thẩm số 56/2023/HS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 174/2023/QĐXXPT-HS ngày 10 tháng 8 năm 2023.

* Các bị cáo kháng cáo:

1. Họ và tên: Đậu Văn L, tên gọi khác: Không - Sinh ngày 01/01/2004, tại thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Thôn K, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đậu Văn S (SN 1976) và bà: Nguyễn Thị Đ (SN 1977); Vợ, con: Chưa có; Tiền án; Tiền sự: Không. Tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (Có mặt).

2. Họ và tên: Phạm Xuân T, tên gọi khác: Không - Sinh ngày 19/12/2005, tại xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa;

Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Học viên; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Xuân Đ1 (SN 1981) và bà: Nguyễn Thị H (SN 1983); Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không. Nhân thân: Ngày 05/01/2022, bị Công an xã T, thị xã N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng pháo trái phép (QĐ xử phạt số 0066847/QĐ-XPHC). Tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (Có mặt).

3. Họ và tên: Nguyễn Văn T1, tên gọi khác: Không - Sinh ngày 10/3/2004, tại xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa;

Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn M (SN 1968) và bà: Nguyễn Thị N (SN 1972); Vợ, con: Chưa có; Tiền án; Tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (Có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo Phạm Xuân T: Ông Lê Khắc H1 - Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước - Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 3, thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (Có mặt).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (Không kháng cáo):

1. Ông Lê Văn V (SN 1958 - Vắng mặt).

2. Bà Nguyễn Thị V1 (SN 1962 - Vắng mặt). Đều trú tại: TDP G, phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

* Người làm chứng:

1. Anh Hoàng Bá T2 - Sinh ngày 16/8/2007 (Vắng mặt). Trú tại: TDP Đ, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

2. Anh Lê Văn T3 - Sinh năm 2002 (Vắng mặt). Trú tại: TDP T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

3. Chị Nguyễn Thị Hà N1 - Sinh ngày 16/11/2005 (Vắng mặt). Trú tại: TDP T, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

4. Chị Lê Thu L1 - Sinh ngày 22/12/2008 (Vắng mặt).

5. Chị Phan Thị Tuyết C - Sinh ngày 13/12/2006 (Vắng mặt). Đều trú tại: TDP L, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

6. Nguyễn Hồng H2 - Sinh ngày 07/6/2004 (Vắng mặt). Trú tại: TDP H, phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Hữu C1, trú tổ dân phố T, phường T, thị xã N và Trần Văn Q, trú tại thôn K, xã T, thị xã N có mâu thuẫn và thách thức nhau trên mạng xã hội. Khoảng 15h20' ngày 09/5/2022, Lê Hữu N2 (là em họ của Lê Hữu C1); Nguyễn Thị Hà N1 (bạn gái của N2); Hoàng Bá T2; Lê Văn T3; Trần Hải B; Trương Tất D, đều trú tại phường H, thị xã N đang ngồi uống nước tại quán “Trà Chanh 66” ở đường Đ thuộc tổ dân phố G, phường T, thị xã N thì thấy Trần Văn Q; Nguyễn Văn L2, trú thôn T, xã T, thị xã N; Đỗ Thế Q1, trú thôn Đ, xã T, thị xã N; L, trú tại thôn T, xã T, thị xã N; Lê Thu L1; Phạm Thị Tuyết C2, cùng trú tại tổ dân phố L, phường H, thị xã N và một người thanh niên khác cùng đang ngồi uống nước tại quán. Do biết giữa C1Q có mâu thuẫn nên N2 gọi điện thoại thông báo cho C1 biết Q đang ở quán “T”, lúc này C1 đang đi cùng Đoàn Văn Q2, trú tổ dân phố Đ, phường H.

Về phần Q, ngồi uống nước một lát thì Q cùng với Q1, L2, LTuyết C2 đi sang quán ốc “Thái X” đối diện quán “Trà Chanh 66” để ăn ốc. Tại đây, Q gọi điện rủ Phạm Xuân T, trú tại thôn T, xã T, thị xã N và Nguyễn Hồng H2, trú tại tổ dân phố H, phường T, thị xã N đến quán ốc. Sau khi nhận điện thoại, Q rủ thêm Nguyễn Văn T1, trú thôn T, xã T, thị xã N đi trại theo K, xã T đến quán ốc “T” để ăn ốc. Khoảng 15h 30 phút cùng ngày, Q2 điều khiển xe mô tô chở C1 đến trước cửa quán “Trà Chanh 66”, C1 vào gặp và rủ N2 sang đánh Q. N2 đồng ý và bảo T2 đi xe chở Q2C1 đi sang quán ốc “Thái X” trước, B đi xe mô tô chở T3 theo sau, còn N2 đi bộ sang. Khi sang đến quán ốc, C1 gọi Q ra để đánh đồng thời nhặt 02 cục đá ở ven đường cầm trên tay, Q2 cũng nhặt 01 cục đá cầm trên tay còn B nhặt 01 đoạn cây thân gỗ (dài khoảng 01m, đường kính khoảng 04cm) cầm trên tay đi trên đường Đ, gần trước cửa quán ốc, còn T3 thì đứng xem. Thấy hai bên thách thức đánh nhau thì bà Nguyễn Thị V1, (chủ quán ốc) đóng cửa quán lại. Q2 cầm đá ném vào trong quán nhưng trúng hàng rào lưới thép B-40, thấy vậy Q lúc này đang đứng bên trong quán hô lên “Chơi nó đi cho tao...”, đồng thời Q cùng với L2, T1, Lường Đình L3L lấy vỏ chai bia Hà Nội bằng thủy tinh trong quán ném ra ngoài, tiếp đó Q chạy vào trong quán ốc lấy 01 con dao (loại dao gọt hoa quả dài khoảng 35cm cả cán), Q cũng chạy vào trong quán ốc lấy 01 con dao (loại dao thái bận rộng, mũi bằng, cán bằng gỗ, lưỡi dao dài khoảng 30cm), L2 cầm cây chổi lau nhà (cán bằng gỗ dài khoảng 1,2m, đường kính khoảng 03cm; đầu lau bằng các tấm vải lưới); Lường Đình L3 cầm vỏ chai bia; Đậu Văn L cầm 01 đoạn ống tuýp sắt (dài khoảng 40cm, đường kính khoảng 2,7cm) và T1 cầm đá và khay đựng cốc chén bằng I, mở cửa quán chạy ra đường Đ đuổi đánh, ném vỏ chai bia, ném đá về phía nhóm của C1 nhưng không trúng ai. Nhóm của C1 bỏ chạy, vừa chạy C1, T2, N2, Q2 cầm đá ném lại về phía nhóm của Q nhưng cũng không trúng ai, còn Trần Hải B cầm đoạn cây thân gỗ đi lại định đánh Q thì bị Q cầm vỏ chai bia ném trúng vào cổ tay phải. Sau đó nhóm của C1 chạy về quán “Trà Chanh 66”, thì nhóm của Q cũng đi vào trong quán ốc. Q bảo N2 về nhà tìm dao để đánh lại nhóm của Q. N2 chở C1 về nhà, tại đây N2 lấy 01 con dao hàn tuýp sắt (cả tuýp và dao dài 1,4m), C1 lấy 01 đoạn tuýp sắt dài khoảng 01m, đường kính khoảng 04cm rồi cả hai quay lại quán “Trà Chanh 66” cùng với B, T3. T2 tiếp tục sang quán ốc “Thái Xo”, C1N2 đứng ngoài đường chửi bới, thách thức nhau trên mạng xã hội. Khoảng 02 bên chửi bới, thách thức đánh nhau nên ông Lê Văn V, (chồng bà V1) ra can ngăn, thì Q, L2T1 bên trong quán ốc tiếp tục lấy vỏ chai bia ném phía nhóm của C1 nhưng không trúng ai, tuy nhiên vỏ chai bia do Q ném trúng vào cột cổng quán ốc, mảnh vỡ văng vào trán và cánh tay trái của ông V, làm ông V bị thương. Về phần C1 cũng nhặt đá ném về phía nhóm của Q nhưng không trúng ai, sau đó các đối tượng tiếp tục lùa đuổi đánh nhau thì Công an phường T có mặt, ổn định trật tự và xử lý vụ việc. Thấy lực lượng Công an đến, các đối tượng mới giải tán, lên xe mô tô bỏ đi; ông V bị thương nhẹ nên tự băng bó vết thương.

* Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 USB nhãn hiệu Kingston, bên ngoài có dòng chữ “DR101 G2", bên trong chưa 02 tệp video mang tên “30.4.2022 video 1.mp4" dung lượng 25.9MB và “30.4.2022 video 2.mp4" dung lượng 15.3MB được trích xuất từ Camera an ninh của gia đình ông Lê Văn V, trú tổ dân phố G, phường T, thị xã N.

* Tại bản kết luận giám định số 2579/KL-KTHS ngày 29/7/2022 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận 01 (một) USB chứa 02 đoạn video ghi lại hình ảnh các đối tượng lùa, đuổi đánh nhau ngày 09/5/2022: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong USB chứa 02 tệp video gửi giám định.

* Các vấn đề khác liên quan trong vụ án:

- Về các thương tích của ông Lê Văn VTrần Hải B, quá trình điều tra xác định là do Trần Văn Q gây ra. Tuy nhiên do bị thương tích nhẹ nên ông VB đã từ chối giám định mức độ tổn thương cơ thể và không yêu cầu khởi tố nên không có căn cứ để xử lý.

- Cũng trong quá trình điều tra xác định, hành vi chửi bới, hô la, sử dụng hung khí dao, tuýp sắt, đá, vỏ chai bia và một số vật dụng khác, lùa đuổi đánh nhau của hai nhóm đối tượng nêu trên ở đoạn đường Đ thuộc tổ dân phố G, phường T, hai bên là khu dân cư và hàng quán kinh doanh, nơi có đông người sinh hoạt trong khoảng thời gian 20 phút đã làm náo loạn cả đoạn đường và khu dân cư, gây mất trật tự nơi công cộng, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho người dân sinh sống tại khu vực này, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ninh xã hội trên địa bàn.

- Đối với Hoàng Bá T2 có hành vi điều khiển xe mô tô chở Q2C1 sang quán ốc, tham gia lùa đuổi, cầm đá ném về phía nhóm của Q. Tuy nhiên, tính đến ngày thực hiện hành vi nêu trên, T2 mới 14 tuổi 08 tháng 23 ngày, nên căn cứ Điều 12 Bộ luật Hình sự thì T2 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về tội gây rối trật tự công công quy định tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ, tài liệu có liên quan đến Công an thị xã N để xử phạt vi phạm hành chính đối với T2 theo quy định của pháp luật.

- Đối với Lê Văn T3Đỗ Thế Q1 có mặt ở hiện trường tại thời điểm 02 nhóm chửi bới, thách thức và lùa đuổi đánh nhau, thì T3 chỉ đứng xem và có nhặt, cầm 02 cục đá cầm ở tay sau đó bỏ xuống lề đường và Q1 đứng trong quán cầm bơm và vỏ chai bia nhưng không tham gia lùa đuổi đánh nhau nên không xem xét xử lý.

- Đối với Nguyễn Thị Hà N1, Lê Thu L1, Phạm Thị Tuyết C2Nguyễn Hồng H2 là những người đi cùng 02 nhóm trên, khi thấy hai nhóm lùa đuổi, đánh, ném nhau thì hoảng sợ ngồi yên ở trong quán nên không vi phạm pháp luật.

* Về vật chứng vụ án: Thông qua khám nghiệm hiện trường và các bị cáo giao nộp, Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng, gồm: 01 con dao hàn tuýp bằng kim loại dài 139,5 cm, phần lưỡi dao dài 29 cm, phần rộng nhất của lưỡi dao rộng 6,2cm, lưỡi dao bị hoen gỉ (Vật chứng do bị can Lê Hữu N2 giao nộp, hiện đang được bảo quản, chờ xử lý theo quy định). 02 đoạn Video được trích xuất từ Camera an ninh của gia đình ông Lê Văn V, sinh năm 1958, trú tổ dân phố G, phường T, thị xã N được lưu trữ vào 01 USB nhãn hiệu Kingston màu xanh, trắng (Sau giám định, Cơ quan điều tra đã đưa vào hồ sơ vụ án để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử).

Riêng đối với các hung khí như tuýp sắt, đoạn cây thân gỗ, dao, khay đựng cốc chén bằng Inox, chổi lau nhà, các mảnh vỡ chai bia và đá mà các bị cáo đã sử dụng đánh, ném nhau, các bị cáo khai sau đó đã vứt tại hiện trường nơi xảy ra vụ việc, ông V, bà V1 là chủ quán ốc đã thu dọn các vật dụng, nhưng không nhớ đã để các vật dụng này ở đâu, Cơ quan điều tra cũng đã tiến hành các biện pháp xác minh, truy tìm nhưng không có kết quả.

* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Trần Hải B và ông Lê Văn V không yêu cầu Trần Văn Q bồi thường thiệt hại thương tích; gia đình ông Lê Văn V, bà Nguyễn Thị V1 cũng không yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại về tài sản nên không xem xét.

Bản án sơ thẩm số 56/2023/HS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã tuyên các bị cáo Đậu Văn L, Phạm Xuân TNguyễn Văn T1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, Điều 51 (Thêm khoản 2 Điều 51; Điều 91 và Điều 101 đối với bị cáo Phạm Xuân T); Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự (BLHS). Xử phạt bị cáo Đậu Văn L, và Nguyễn Văn T1 mỗi bị cáo 2 (Hai bốn) tháng tù và xử phạt Phạm Xuân T 18 (Mười tám) tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam. Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo khác không có kháng cáo, xử lý vật chứng, nghĩa vụ thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm và trong thời hạn luật định, các bị cáo Đậu Văn L, Phạm Xuân TNguyễn Văn T1 đều có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung của Bản án sơ thẩm đã tuyên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước bào chữa cho bị cáo Phạm Xuân T có quan điểm: Bị cáo khi thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 18 tuổi (mới 16 tuổi 04 tháng 20 ngày) nên còn nhiều hạn chế về nhận thức xã hội và nhận thức pháp luật, dễ bị bạn bè lôi kéo, rủ rê. Sau khi phạm tội thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải. Bản thân bị cáo đang lứa tuổi học sinh nên cần cho bị cáo có cơ hội được tiếp tục học tập, rèn luyện để trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Cũng tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Thanh Hóa sau khi phân tích tính chất vụ án, nhân thân, hành vi phạm tội của các bị cáo cũng như tình tiết mới được bổ sung tại phiên tòa đã đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) chấp nhận kháng cáo của các bị cáo giữ nguyên mức hình phạt, cho các bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Xét về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn của các bị cáo kháng cáo trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 333 BLTTHS, nên đơn được coi là hợp pháp. Do vậy, HĐXX chấp nhận đơn của các bị cáo để xem xét nội dung kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình, cụ thể: Trong khoảng thời gian từ 15 giờ 30 phút đến 15 giờ 50 phút ngày 08/5/2022, tại khu vực đường Đ thuộc tổ dân phố G, phường T, thị xã N, 02 nhóm đối tượng, gồm nhóm của Lê Hữu C1, Lê Hữu N2, Trần Hải B, Đoàn Văn Q2 và nhóm của Trần Văn Q, Nguyễn Văn L2, Đậu Văn L, Lường Đình L3, Nguyễn Văn T1, Phạm Xuân T đã có hành vi thách thức đánh nhau, chửi bới, hô la, sử dụng hung khí là dao, tuýp sắt, đá, vỏ chai bia và một số vật dụng khác lùa, đuổi đánh nhau, làm náo loạn cả đoạn đường qua khu dân cư, nơi kinh doanh hàng quán có đông người sinh hoạt, gây mất trật tự nơi công cộng, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho người dân sinh sống tại khu vực này, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ninh xã hội trên địa bàn.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cấp phúc thẩm phù hợp với lời khai tại cấp sơ thẩm và phù hợp với lời khai của các bị cáo khác không kháng cáo, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ cơ sở kết luận Đậu Văn L, Phạm Xuân TNguyễn Văn T1 cùng các bị cáo khác không kháng cáo phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là bột phát, không có sự phân công vai trò, không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ nên chỉ ở dạng đồng phạm giản đơn.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nên Lê Hữu C1Trần Văn Q đã thách thức đánh nhau. Khi hai nhóm gặp nhau thì các bị cáo Đậu Văn L, Phạm Xuân TNguyễn Văn T1 đã cùng các bị cáo khác có hành vi hô la, sử dụng hung khí là dao, tuýp sắt, đá, vỏ chai bia và một số vật dụng khác lùa, đuổi đánh nhau, gây náo loạn khu vực khu vực tổ dân phố G, phường T, thị xã N. Hành vi của các bị cáo gây mất trật tự nơi công cộng, làm cản trở hoạt động giao thông, gây hoang mang, lo lắng và bức xúc trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an xã hội tại địa phương. Để đảm bảo trật tự xã hội, có tác dụng giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm thì việc truy tố, đưa ra xét xử và buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự là cần thiết, cũng là bài học để răn đe và phòng ngừa chung. Cấp sơ thẩm đã xác định tội danh và khung hình phạt cho các bị cáo là có cơ sở pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo:

[3.1]. Nhận thấy, khi lượng hình cấp sơ thẩm có xem xét, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Phạm Xuân T quá trình sinh sống tại địa phương đã tích cực ủng hộ Quỹ vì người nghèo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Hơn nữa bị cáo Phạm Xuân T khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi, (Mới 16 tuổi 04 tháng 20 ngày) tinh thần và thể chất chưa phát triển hoàn thiện làm ảnh hưởng đến khả năng nhận thức của bị cáo, do đó bị cáo được áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại Chương XII Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đậu Văn LNguyễn Văn T1 là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, chưa vi phạm pháp luật lần nào; Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[3.2] Tại cấp phúc thẩm các bị cáo đều có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, cụ thể: Sau khi xét xử sơ thẩm và trong quá trình tại ngoại tại địa phương, các bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi sai phạm của mình, tỏ ra ăn năn hối cải. Đều đã chủ động nộp toàn bộ tiền án phí sơ thẩm khi Bản án chưa có hiệu lực pháp luật (Cụ thể bị cáo T đã nộp tại Biên lai thu tiền số AA/2021/0005173 ngày 19/6/2023, bị cáo T1 đã nộp tại Biên lai thu tiền số AA/2021/0005174 ngày 19/6/2023 và bị cáo L đã nộp tại Biên lai thu tiền số AA/2021/0005175 ngày 19/6/2023), bị cáo L đã tích cực tham gia ủng hộ Quỹ vì người nghèo tại địa phương, bị cáo Phạm Xuân T ngày 20/7/2023 đã cùng nhiều người dân địa phương tích cực tham gia chữa cháy xe ô tô tải chở hàng của Công ty CP B1 - Chi nhánh T4, đều được Chính quyền địa phương và Công ty CP B1 - Chi nhánh T4 xác nhận và có thư cảm ơn. Hơn nữa các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, bố đẻ bị cáo T1 là người khuyết tật nặng đang hưởng trợ cấp hàng tháng, mẹ đẻ bị bệnh về cột sống lâu năm không làm được công việc nặng nhọc, gia đình bị cáo có ông nội tham gia dân công hoả tuyến được UBND tỉnh T tặng Bằng khen và Bộ có Giấy chứng nhận. Bản thân các bị cáo đều đang là lao động chính. Trước khi phạm tội, bị cáo L và bị cáo T1 đều là công dân tốt, luôn đi đầu trong các phong trào do địa phương phát động, chấp hành đầy đủ các chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước cũng như các quy định tại địa phương. Được chính quyền địa phương nơi cư trú xác nhận. Do đó các bị cáo được áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS.

Mặt khác các bị cáo phạm tội do bị các bị cáo khác rủ rê, lôi kéo, đều giữ vai trò sau cùng, đồng phạm, giúp sức không đáng kể và đều lần đầu phạm tội. Mặc dù bị cáo Phạm Xuân T ngày 05/01/2022 bị Công an xã T xử phạt hành chính về hành vi sử dụng pháo trái phép. Tuy nhiên tại thời điểm đó bị cáo mới được 16 tuổi. Hơn nữa hình phạt để áp dụng đối với bị cáo là người vị thành niên có hành vi phạm tội không chỉ nhằm mục đích răn đe mà còn nhằm mục đích giáo dục người có hành vi phạm tội nhận ra lỗi lầm mà sửa chữa. Nhà nước cũng có chính sách nhân văn, khoan hồng đối với những người chưa thành niên khi thực hiện hành vi phạm tội để họ có cơ hội được làm lại cuộc đời. Từ đó HĐXX cần áp dụng Điều 91 và Điều 101 của BLHS đối với bị cáo Phạm Xuân T.

[3.3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới cũng như nhân thân, điều kiện, hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phạm tội của các bị cáo. HĐXX xét thấy tại cấp phúc thẩm, các bị cáo đều có thêm nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, khi Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, điều đó thể hiện sự ăn năn hối cải, hối hận với việc làm của mình, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, không có tiền án, tiền sự, hành vi của các bị cáo chưa gây tổn hại gì về vật chất, có khả năng tự cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục và răn đe, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao cho chính quyền địa phương, nơi bị cáo cư trú và gia đình có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện để các bị cáo học tập trở thành người có ích cho xã hội. Đồng thời vẫn đảm bảo được tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Do đó cần áp dụng Điều 65 của BLHS, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo chuyển hình phạt, cho được hưởng án treo để các bị cáo thấy được tính nhân đạo của Nhà nước và sự khoan hồng của pháp luật, đồng thời cũng nhằm giáo dục, giúp đỡ các bị cáo nhận thức, sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh bản thân mà trở thành người công dân có ích cho xã hội. Giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục là phù hợp.

[3.4] Từ phân tích và nhận định nêu trên, HĐXX nhận thấy, kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo Đậu Văn L, Phạm Xuân TNguyễn Văn T1 là có cơ sở chấp nhận. Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đề nghị HĐXX áp dụng Điều 357 của BLTTHS, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa phần hình phạt của Bản án sơ thẩm là có căn cứ pháp luật.

[4] Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo đã nộp đủ.

[5] Án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm thẩm.

[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị HĐXX không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo Đậu Văn L, Phạm Xuân TNguyễn Văn T1. Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số 56/2023/HS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa về hình phạt.

Tuyên bố: Các bị cáo Đậu Văn L, Phạm Xuân TNguyễn Văn T1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đậu Văn L 24 (Hai bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (Bốn tám) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (25/8/2023).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T1 24 (Hai bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (Bốn tám) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (25/8/2023).

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 65; Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Xuân T 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba sáu) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (25/8/2023).

Giao các bị cáo Đậu Văn L, Phạm Xuân TNguyễn Văn T1 cho Ủy ban nhân dân xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Đậu Văn L, Phạm Xuân TNguyễn Văn T1 không phải chịu án phí hình sự phúc.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- Các bị cáo;

- TAND, VKSND Cấp cao HN;

- VKSND tỉnh Thanh Hóa;

- Công an TX Nghi Sơn, Thanh Hóa;

- TAND, VKSND TX Nghi Sơn, Thanh Hóa;

- Chi cục THADS TX Nghi Sơn, Thanh Hóa;

- UBND xã Tùng Lâm, TX Nghi Sơn, TH;

- Lưu hồ sơ vụ án

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Lê Quốc Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 151/2023/HS-PT ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự phúc thẩm (gây rối trật tự công cộng)

  • Số bản án: 151/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Gây rối trật tự công cộng)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đậu Văn L + ĐP "Gây rối trật tự công cộng"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger