TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số:151/2023/HNGĐ-ST Ngày: 21 - 8 - 2023 “V/v tranh chấp ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị My My
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hồ Xuân Giao
2. Ông Nguyễn Lập Tiến
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Muôn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Thuận – Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 154/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2023; giữa:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hoài T – Sinh năm: 1996 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ cũ: Hẻm S, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk.
Địa chỉ mới: Số nhà S, thôn M, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thành T – Sinh năm: 1993 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Hẻm S, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện và tại bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoài T khai:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Hoài T và ông Nguyễn Thành T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 29 tháng 7 năm 2020. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận được một thời gian đầu thì xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau. Bà Nguyễn Thị Hoài T xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông Nguyễn Thành T nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho Bà Nguyễn Thị Hoài T được ly hôn với ông Nguyễn Thành T.
Về con chung: Bà T xác định bà và ông T có 01 con chung là cháu Nguyễn Thành A, sinh ngày 21/3/2022. Bà T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thành A đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu ông Nguyễn Thành T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Hoài T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị Hoài T khẳng định bà và ông T không nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng bà.
* Bị đơn: Ông Nguyễn Thành T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc, do đó Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai và thực hiện phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử tại phiên tòa là đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.
Về ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoài T. Bà Nguyễn Thị Hoài T được ly hôn với ông Nguyễn Thành T. Giao con chung cháu Nguyễn Thành A, sinh ngày 21/3/2022 cho bà Nguyễn Thị Hoài T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoài T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Thành T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đảm bảo đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ pháp luật: Đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hoài T yêu cầu Tòa án giải quyết xin được ly hôn đối với ông Nguyễn Thành T và nguyện vọng chăm sóc nuôi con chung. Yêu cầu giải quyết của đương sự là theo quy định tại khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố B theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Qua bản tự khai, lời khai của nguyên đơn, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đều thể hiện quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của cả hai bên và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 29 tháng 7 năm 2020. Nên xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Hoài T và ông Nguyễn Thành T là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ.
Sau khi kết hôn, vợ chồng bà T, ông T chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Bà T xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông T nữa. Nên Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã xảy ra trầm trọng. Cuộc sống chung giữa hai bên không không thể tiếp tục duy trì hàn gắn, nên cần chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Hoài T .
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Hoài T với ông Nguyễn Thành T có 01 con chung là cháu Nguyễn Thành A, sinh ngày 21/3/2022. Nguyện vọng của bà T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thành A. Để đảm bảo sự phát triển về thể chất và tinh thần của cháu A nên cần giao cháu Nguyễn Thành A, sinh ngày 21/3/2022 cho bà Nguyễn Thị Hoài T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị Hoài T không yêu cầu ông Nguyễn Thành T phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không đề cập giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Hoài T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra để giải quyết là phù hợp.
[4] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hoài T phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự,
- Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 56; Điều 58; Điều 81; khoản 1 và khoản 3 Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Hoài T. Bà Nguyễn Thị Hoài T được ly hôn với ông Nguyễn Thành T.
- Về con chung: Giao con chung cháu Nguyễn Thành A, sinh ngày 21/3/2022 cho bà Nguyễn Thị Hoài T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
Ông Nguyễn Thành T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Nguyễn Thành T được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Hoài T phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ trong số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo biên lai thu số AA/2022/0001337 ngày 24 tháng 02 năm 2023.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị My My |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 151/2023/HNGĐ-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 151/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị Hoài T xin ly hôn với ông Nguyễn Thành T
