|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 151/2022/DS-PT Ngày: 24 - 8 - 2022 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Duy Tuấn.
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Thanh Huyền, ông Nguyễn Huờn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 129/2022/TLPT-DS ngày 21 tháng 6 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 02/2022/DS-ST ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk bị kháng nghị.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 144/2022/QĐ-PT ngày 25/7/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 139/2022/QĐ-PT ngày 15/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng N. Địa chỉ: 02 đường L, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Tiết Văn T, chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh Th, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N, chi nhánh huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện tham gia tố tụng: Ông Phạm Ngọc Đinh L, chức vụ: Phó trưởng phòng phụ trách phòng KHKD. Địa chỉ: Số 211 đường N, thị trấn K, huyện B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Cẩm H, sinh năm 1968 và bà Võ Thị Th, sinh năm 1968. Địa chỉ: Thôn X, xã S, huyện B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Anh Nguyễn Thành P, sinh năm 1989; anh Nguyễn Trường G, sinh năm 1994; chị Nguyễn Thu H, sinh năm 2001. Cùng địa chỉ: Thôn X, xã S, huyện B, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt).
3.2. Ông Trần Minh B, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1971. Địa chỉ: Thôn 8, xã S, huyện B, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).
4. Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Ngọc Đinh L trình bày:
Ngày 25/12/2019, ông Nguyễn Cẩm H đã ký kết hợp đồng tín dụng số 5205-LAV-201902219 với Ngân hàng N, Chi nhánh huyện B, tỉnh Đắk Lắk (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) vay số tiền 250.000.000 đồng; mục đích vay để đáp ứng nhu cầu chi phí chăn nuôi bò, trồng trọt cà phê, hoa màu, mua sắm đồ dùng gia đình; lãi suất 12,5%/ năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, lãi suất chậm trả 10%/năm; thời hạn vay 36 tháng, ngày trả nợ cuối cùng là ngày 25/12/2022. Chia làm 3 kỳ trả nợ như sau:
- - Ngày 25/12/2020: 50.000.000 đồng
- - Ngày 25/12/2021: 100.000.000 đồng
- - Ngày 25/12/2022: 100.000.000 đồng
Để bảo đảm cho khoản vay, ông H ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất số [...]/HĐTC ngày 10/12/2018 với Ngân hàng. Tài sản thế chấp gồm:
Tài sản 1: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 020424 do UBND huyện B cấp ngày 19/8/1999 cho hộ ông Nguyễn Cẩm H, thửa đất số 142, tờ bản đồ số 8, diện tích 1.360m2, trong đó đất ở 400m2 và đất màu 960m2, địa chỉ tại thôn X, xã S, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
Tài sản 2: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận số BQ 749883 do UBND huyện B cấp ngày 10/7/2014 cho hộ ông Nguyễn Cẩm H và bà Võ Thị Th, thửa đất số 1383, tờ bản đồ số 14, diện tích 694,7m2, đất chuyên trồng lúa nước, địa chỉ tại thôn X, xã S, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
Tài sản 3: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận số BQ 749884 do UBND huyện B cấp ngày 10/7/2014 cho hộ ông Nguyễn Cẩm H và bà Võ Thị Th, thửa đất số 1, tờ bản đồ số 51, diện tích 385,6m2, đất nuôi trồng thủy sản, địa chỉ tại thôn X, xã S, huyện B, tỉnh Đắk Lắk.
Từ ngày vay vốn đến nay, ông Nguyễn Cẩm H chỉ trả được 7.876.712 đồng tiền lãi còn phần gốc đến hạn là 50.000.000 đồng phải trả vào ngày 25/12/2020 thì ông Nguyễn Cẩm H chưa trả cho Ngân hàng. Ông Nguyễn Cẩm H và bà Võ Thị Th liên tiếp vi phạm nghĩa vụ và cam kết, cố tình không hợp tác, không phối hợp xử lý tài sản bảo đảm làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng khởi kiện buộc ông Nguyễn Cẩm H và bà Võ Thị Th phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 250.000.000 đồng và 43.039.384 đồng tiền lãi tính đến ngày 20/7/2021; tiếp tục tính lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng từ ngày 21/7/2021 cho đến khi trả xong số nợ gốc.
Trường hợp ông H và bà Th không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm của ông H và bà Th để thu hồi nợ cho Ngân hàng theo hợp đồng thế chấp số [...]/HĐTC ngày 10/12/2018.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn Nguyễn Cẩm H, bà Võ Thị Th và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Thành P, anh Nguyễn Trường G, chị Nguyễn Thu H tham gia tố tụng nhưng đều vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Minh B và bà Nguyễn Thị T trình bày:
Ngày 22/12/2016, vợ chồng ông B, bà T có thoả thuận nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Cẩm H và bà Võ Thị Th diện tích đất 296m2 tại thôn X, xã S, huyện B có tứ cận:
- Phía đông giáp mương thuỷ lợi
- Phía tây giáp đất ông B, bà T
- Phía nam giáp ao nhà ông Huỳnh Tấn C và bà Nguyễn Thị B
- Phía bắc giáp đất ông B, bà T.
Trên đất có trồng một số cây cau và một cái hồ nhỏ. Giá trị chuyển nhượng 30.000.000 đồng, hai bên chỉ viết giấy tay với nhau và đại diện hai gia đình là ông B, ông H ký. Khi đó ông H, bà Th có nói đất chưa được cấp GCNQSD đất nên hai bên thống nhất khi nào muốn làm GCN thì ông B, bà T sẽ tự đi làm. Vợ chồng ông B, bà T đã giao đủ tiền, ông H, bà Th cũng bàn giao đất cho ông B, bà T sử dụng từ đó đến nay (chỉ cắm mốc giới chứ không đo đạc cụ thể).
Sau khi nhận đất, ông bà đã tiến hành san lấp hồ, đổ đất để trồng cây ăn trái. Toàn bộ tài sản trên đất hiện nay là do ông bà tạo lập. Quá trình sử dụng đất, ông bà không tranh chấp với ai cũng không thấy có cán bộ Ngân hàng xuống xem xét, thẩm định. Đến khi Tòa án xuống làm việc thì ông bà mới biết thửa đất ông bà nhận chuyển nhượng của ông H, bà Th đã được UBND huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 749885 vào ngày 10/7/2014 cho hộ ông Nguyễn Cẩm H và bà Võ Thị Th thửa đất số 1, tờ bản đồ số 51, diện tích 385,6m2. Hơn nữa, ông H, bà Th đã thế chấp quyền sử dụng đất trên cho Ngân hàng N Chi nhánh B để vay vốn đến hạn chưa trả được nợ. Ông bà yêu cầu ông H, bà Th có trách nhiệm trả tiền cho Ngân hàng để lấy giấy tờ về làm thủ tục sang nhượng lại cho ông bà theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, ông bà không được Tòa án giải thích về việc yêu cầu độc lập để giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông H, bà Th trong cùng vụ án để đảm bảo quyền lợi của mình. Sau khi nhận được bản án sơ thẩm, ông bà không hiểu biết nên không có ý kiến gì. Tuy nhiên, hiện nay ông bà đã được giải thích đầy đủ và nhận thấy kết quả giải quyết tại Bản án sơ thẩm làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông bà vì tài sản trên đất là do ông bà tạo dựng nhưng không được xem xét đến. Ông bà yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông H, bà Th ngày 22/12/2016, ông bà sẽ có đơn yêu cầu độc lập sau.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 02/2022/DS-ST ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk quyết định:
Căn cứ Điều 299 và Điều 463 Bộ luật dân sự; Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.
1. Về số nợ: Buộc ông Nguyễn Cẩm H và bà Võ Thị Th trả cho Ngân hàng N, Chi nhánh huyện B, Đắk Lắk số tiền nợ gốc là 250.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 20/7/2021 là 43.039.384 đồng. Tổng cộng: 293.039.384 đồng.
Ngoài ra, ông Nguyễn Cẩm H và bà Võ Thị Th còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 21/7/2021 cho đến khi trả hết nợ vay.
Trường hợp, ông Nguyễn Cẩm H và bà Võ Thị Th không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ, thì Ngân hàng N, Chi nhánh huyện B có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự xử lý tài sản đảm bảo của hộ ông Nguyễn Cẩm H và bà Võ Thị Th đang thế chấp tại Ngân hàng N - Chi nhánh huyện B, tỉnh Đắk Lắk theo hợp đồng thế chấp tài sản số: [...]/HĐTC ngày 10/12/2018 để thu hồi nợ.
Trường hợp sau khi phát mãi tài sản bảo đảm nêu trên mà không đủ thanh toán số tiền nợ gốc, lãi vay, lãi phạt có liên quan, ông Nguyễn Cẩm H và bà Võ Thị Th vẫn phải chịu trách nhiệm thanh toán số tiền nợ gốc, lãi vay, lãi phạt có liên quan còn lại và phải chịu mọi chi phí phát sinh trong suốt quá trình giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Đối với việc chuyển nhượng thửa đất số 1, tờ bản đồ số 51, diện tích 385,6m2 giữa vợ chồng ông Nguyễn Cẩm H, bà Võ Thị Th với ông Trần Minh B, bà Nguyễn Thị T tách ra để giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 13/5/2022, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 462/QĐKNPT-VKS-DS về việc kháng nghị một phần bản án sơ thẩm đối với tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo GCN số BQ 749884 do UBND huyện B cấp ngày 10/7/2014 cho hộ ông Nguyễn Cẩm H và bà Võ Thị Th thửa đất số 1, tờ bản đồ số 51, diện tích 385,6m2, đề nghị cấp phúc thẩm xét xử theo hướng hủy một phần bản án và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì thêm, chỉ đề nghị Tòa án giải quyết vụ án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người nhận chuyển nhượng tài sản ngay tình theo đúng pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 462/QĐKNPT-VKS-DS ngày 13/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk ban hành trong thời hạn quy định nên vụ án được xem xét theo trình tự phúc thẩm là phù hợp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về số nợ gốc và lãi: Xét Hợp đồng tín dụng số 5205-LAV-201902219 ngày 25/12/2019 giữa Ngân hàng N chi nhánh huyện B với ông Nguyễn Cẩm H là hoàn toàn tự nguyện, tuân thủ đúng quy định pháp luật. Cùng ngày, Ngân hàng đã giải ngân số tiền 250.000.000 đồng cho ông H. Từ ngày vay vốn, ông H chỉ trả được 7.876.712 đồng tiền lãi còn phần gốc đến hạn thì ông H chưa trả cho Ngân hàng. Xét mục đích khoản vay nhằm đáp ứng nhu cầu chi phí chăn nuôi bò, trồng trọt cà phê, hoa màu, mua sắm đồ dùng gia đình nên Ngân hàng khởi kiện vợ chồng ông H, bà Th yêu cầu trả số tiền nợ gốc là 250.000.000 đồng và 43.039.384 đồng tiền lãi tính đến ngày 20/7/2021, tiếp tục tính lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng từ ngày 21/7/2021 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ là có căn cứ, được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là phù hợp quy định pháp luật.
[2.2] Về tài sản thế chấp: Để bảo đảm cho khoản vay, ông H ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất số [...]/HĐTC ngày 10/12/2018 với Ngân hàng. Tài sản thế chấp gồm 03 tài sản (như đã nêu ở phần nội dung vụ án).
[2.2.1] Xét các tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận số P 020424 và Giấy chứng nhận số BQ 749883 thấy rằng: Hộ ông H, bà Th gồm vợ chồng ông H, bà Th và các thành viên trong hộ từ đủ 16 tuổi có anh Nguyễn Thành P, anh Nguyễn Trường G và chị Nguyễn Thu H là chủ sử dụng hợp pháp thửa đất. Theo Hợp đồng ủy quyền ngày 10/12/2018 tại UBND xã S, huyện B thì bà Th, anh P, anh G và chị H đã ủy quyền cho ông H được toàn quyền ký kết, thực hiện hợp đồng thế chấp với ngân hàng. Như vậy, đối với 02 tài sản trên hợp đồng thế chấp tuân thủ đúng hình thức và nội dung được quy định tại Luật đất đai và Bộ luật dân sự.
[2.2.2] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk đối với tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận số BQ 749884 (thửa đất số 1, tờ bản đồ số 51, diện tích 385,6m2) thấy rằng: Mặc dù đất đã được UBND huyện B cấp GCNQSDĐ cho hộ ông H, bà Th, hợp đồng thế chấp được các bên lập văn bản tuân thủ đúng hình thức, được công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm. Tuy nhiên, vào ngày 22/12/2016, ông H, bà Th đã chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Trần Minh B, bà Nguyễn Thị T theo giấy viết tay với giá 30.000.000 đồng. Ông B, bà T đã nhận đất quản lý, tạo lập tài sản trên đất, sử dụng liên tục cho đến nay, không tranh chấp với ai. Đến ngày 10/12/2018, hộ ông H, bà Th thế chấp thửa đất trên cho Ngân hàng nhưng không thông báo cho Ngân hàng biết về việc ông B, bà T đang sử dụng đất. Quá trình thẩm định tài sản cho vay, Ngân hàng đã không xác minh làm rõ nguồn gốc tài sản, ai là người đang quản lý sử dụng. Do đó, cần xem xét lại tính pháp lý của hợp đồng thế chấp liên quan đến tài sản trên.
[3] Xét thấy cấp sơ thẩm thu thập tài liệu chứng cứ chưa đầy đủ, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, giải quyết vụ án chưa khách quan, không đảm bảo công tác thi hành án, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Vì vậy để giải quyết triệt để vụ án, cần hủy một phần bản án sơ thẩm đối với việc xử lý các tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp. Do đó cần chấp nhận nội dung kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 2 Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự;
1. Chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 462/QĐKNPT-VKS-DS ngày 13/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
Hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm số 02/2022/DS-ST ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Toà án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk đối với việc xử lý các tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số: [...]/HĐTC, ngày 10/12/2018 giữa Ngân hàng N Chi nhánh huyện B với ông Nguyễn Cẩm H.
Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Krông Bông giải quyết lại vụ theo thủ tục sơ thẩm.
2. Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N.
- Buộc ông Nguyễn Cẩm H và bà Võ Thị Th phải trả cho Ngân hàng N số tiền nợ gốc là 250.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 20/7/2021 là 43.039.384 đồng. Tổng cộng: 293.039.384 đồng (Hai trăm chín mươi ba triệu không trăm ba mươi chín nghìn ba trăm tám mươi tư đồng).
- Ông Nguyễn Cẩm H và bà Võ Thị Th phải tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 21/7/2021 cho đến khi trả hết nợ vay.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Cẩm H và bà Võ Thị Th phải chịu 14.651.969 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - TAND tối cao; - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - TAND huyện Krông Bông; - CCTHADS huyện B; - Các đương sự; - Lưu. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Duy Tuấn |
Bản án số 151/2022/DS-PT ngày 24/08/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 151/2022/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/08/2022
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng N và ông Nguyễn Cẩm H, bà Võ Thị Th
