TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Bản án số: 150/2024/HS-PT Ngày: 31/8/2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Trọng Danh
Các Thẩm phán: Ông Phan Vĩnh Chuyển
Ông Trần Hữu Vinh
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Hồng Lĩnh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 141/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Lê Đình Chánh H, Lê Thị Thanh N, do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2024/HS-ST ngày 05/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
Bị cáo bị kháng nghị:
- LÊ ĐÌNH CHÁNH H, sinh ngày 03 tháng 02 năm 1995 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi cư trú: Tổ E, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Đình T và bà Nguyễn Thị Liên H1; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt ngày 11/01/2024, hiện đang bị tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.
- LÊ THỊ THANH N, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1991 tại tỉnh Phú Yên; Nơi ĐKNKTT: Thôn C, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên; Chỗ ở: Số D đường A, phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn L và bà Đặng Thị V; Bị cáo chưa có chồng con; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 18/02/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; (Đã được xóa án tích)
Bị cáo bị bắt ngày 11/01/2024, hiện đang bị tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ ngày 11/01/2024, Lê Đình Chánh H liên lạc rủ Lê Thị Thanh N đến nhà B đường T, thành phố Đà Nẵng chơi ma túy thì N đồng ý. H liên lạc cho 01 người đàn ông (chưa rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua 02 viên ma tuý thuốc lắc và nửa hộp năm ma tuý khay, tiền sẽ tính sau, người đàn ông đồng ý. H đi theo chỉ dẫn của người bán ma tuý đến vỉa hè đường P, thành phố Đà Nẵng (không rõ địa chỉ) lấy 02 viên ma tuý thuốc lắc và nửa hộp năm ma tuý khay. H đem số ma túy trên về nhà số B đường T, thành phố Đà Nẵng rồi lấy 01 đĩa sứ màu trắng ở bếp đi vào phòng vệ sinh dùng bật lửa hơ nóng đĩa rồi mang vào phòng ngủ đưa cho N. Ngữ đổ ma túy khay ra đĩa, nghiền nhỏ và tự xào ma túy bằng thẻ CCCD để cả hai cùng sử dụng. Lúc này, H sử dụng 1/3 viên ma tuý thuốc lắc rồi đưa cho N sử dụng một ít, phần ma tuý thuốc lắc còn lại N bỏ vào gói ny lông chứa ma tuý khay dư rồi cất vào túi quần bên trái Ngữ đang mặc để sau khi sử dụng hết ma túy trên đĩa thì sử dụng tiếp. Sau đó, H lấy tờ tiền 10.000 đồng của H đã được cuộn tròn sẵn từ trước đó làm dụng cụ cùng N sử dụng ma tuý. Ngữ sử dụng điện thoại của mình kết nối với loa để mở nhạc để phục vụ cho quá trình sử dụng ma túy, H bật đèn rồi cùng N nghe nhạc và sử dụng ma túy. Đến 10 giờ cùng ngày, H và N bị bắt quả tang về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thu giữ trên nền nhà trong phòng 01 đĩa sứ màu trắng bên trên có chất bột màu trắng, được đổ vào 01 gói nilon có kích thước (11,5x7) cm và 01 viên nén màu xanh hình kim cương, được niêm phong, ký hiệu là G1. Tiếp tục kiểm tra và thu giữ trong túi quần của Lê Thị Thanh N đang mặc có 01 gói nilon kích thước (4x7,5) cm bên trong có chứa tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu xanh không rõ hình dạng, được niêm phong, ký hiệu là G2.
Tiến hành kiểm tra điện thoại di động của Lê Đình Chánh H và Lê Thị Thanh N, không phát hiện nội dung gì liên quan đến vụ án. Qua kết quả thử nước tiểu, Lê Đình Chánh H và Lê Thị Thanh N dương tính với ma tuý.
* Theo Kết luận giám định số 90/KL-KTHS ngày 19/01/2024 của Phòng K1 - Công an thành phố Đ kết luận:
- Tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu G1a, G2a gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng mẫu G1a: 0,838gam; G2a: 0,570gam.
- Chất bột màu trắng bám dính trên một đĩa sứ màu trắng, 01 CCCD mang tên Lê Đình Chánh H, 01 tờ tiền 10.000 đồng được cuộn tròn trong bì niêm phong ký hiệu G3 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, không xác định khối lượng mẫu G3.
- 01 viên nén, 01 mảnh vỡ viên nén màu xanh trong mẫu ký hiệu G1b, G2b gửi giám định là ma túy, loại MDMA; khối lượng mẫu G1b: 0,525 gam, G2b: 0,160 gam.
* Tang vật tạm giữ:
- Mẫu vật hoàn trả sau giám định được niêm phong bì niêm phong kèm theo Kết luận giám định số 90/KL-KTHS ngày 19/01/2024, có đóng dấu giáp lai của Phòng K1 Công an thành phố Đ.
- 01 loa màu đen có chữ “harman kardon".
- 01 đèn màu trắng, 01 đèn màu đen có chữ K10.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 promax màu xám, số imei: 350981863174618, có gắn sim số 0935.030.610.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 promax màu tím, số imei: 357650612858358, có gắn sim số 0972.101.091.
- Số tiền: 200.000 đồng.
Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2024/HS-ST ngày 05/06/2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lê Đình Chánh H và Lê Thị Thanh N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt:
- Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Đình Chánh H 03 năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt, ngày 11/01/2024.
- Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Lê Thị thanh N2 02 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị bắt, ngày 11/01/2024.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo.
Ngày 01/7/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng ban hành Quyết định kháng nghị số 04/QĐ-VKS-P7 với nội dung: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra, truy tố, xét xử lại đối với các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa giữ nguyên nội dung kháng nghị, có quan điểm giải quyết vụ án như sau;
Về hình thức: Quyết định kháng nghị số số 04/QĐ-VKS-P7 ngày 01/7/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng trong thời hạn luật định nên đảm bảo đúng thủ tục.
Về nội dung: Bản án số 75/2024/HS-ST ngày 05/06/2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã xét xử các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Các bị cáo đều khai nhận số ma túy Ketamine (ma túy K) và MDMA (thuốc lắc) bị thu giữ là do bị cáo H đi mua đem về phòng trọ của N2. Sau đó các bị cáo đã chia số ma túy Ketamine thành 02 phần, một phần trên đĩa để sử dụng, phần còn lại cất vào túi quần của N2; số ma túy MDMA (thuốc lắc) các bị cáo mỗi người đã sử dụng một phần, phần còn lại N2 bỏ chung vào gói ma túy Ketamine (ma túy Khay) và cất trong túi quần; thời điểm bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên đĩa ma túy Ketamine (ma túy K) các bị cáo đang sử dụng và vẫn còn nguyên 01 viên thuốc lắc (MDMA). Như vậy, căn cứ lời khai của các bị cáo, đối chiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của ngữ và H đều dương tính với chất ma túy Ketamine và MDMA là các loại ma túy các bị cáo mua về để sử dụng là cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên, việc Tòa án cấp sơ thẩm không đánh giá toàn bộ số ma túy còn lại thu giữ trên đĩa và trong túi quần của N2 là bỏ lọt hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đối với các bị cáo. Do đó, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355; điểm a khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự để hủy bản án hình sự sơ thẩm số 75/2024/HS-ST ngày 05/06/2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng để điều tra, truy tố, xét xử lại cho đúng quy định pháp luật.
Bị cáo Lê Đình Chánh H cho rằng bản thân không biết việc bị cáo Lê Thị Thanh N cất giấu riêng ma túy, mục đích của bị cáo là sẽ sử dụng hết số ma túy mà bị cáo đã mua trong một lần. Bị cáo Lê Thị Thanh N cho rằng việc cất giấu ma túy không nhằm mục đích sử dụng vào lần khác mà do đĩa sứ đã hết chỗ nên bị cáo mới cất một phần ma túy vào túi quần. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng nghị, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Lê Đình Chánh H, Lê Thị Thanh N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 10 giờ ngày 11/01/2024, tại nhà số B T, phường H, thành phố Đà Nẵng, Lê Đình Chánh H và Lê Thị Thanh N đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận T phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trên nền nhà, trong đĩa sứ 0,838gam ma túy loại Ketamine và 0,525gam ma túy loại MDMA; thu giữ trong túi quần bên trái của Lê Thị Thanh N 01 gói ni lông kích thước (04x7,5)cm, bên trong có 0,570gam ma túy loại Ketamine và 0,160gam ma túy loại MDMA; ngoài ra còn thu giữ công cụ tổ chức sử dụng ma túy và vật chứng khác có liên quan.
[2]. Xét kháng nghị số 04/QĐ-VKS-P7 ngày 01/7/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Đối với khối lượng ma túy thu giữ trong túi quần của bị cáo Lê Thị Thanh N, quá trình điều tra, bản thân bị cáo N đã thừa nhận trong các Bản tự khai và Biên bản ghi lời khai (Bút lục số 91, 93), hành vi tàng trữ chất ma túy trong túi quần của bị cáo là do bị cáo tự tách ra trong tổng số ma túy mà bị cáo H mua về, mục đích mục đích của bị cáo N là để sử dụng vào lần tiếp theo. Tại phiên tòa, bị cáo N cho rằng việc bị cáo tách ma túy cất trong túi quần là do bị cáo lần đầu sử dụng ma túy; đĩa sứ mà bị cáo H đưa cho bị cáo không đủ chứa ma túy khay nên bị cáo mới cất bớt, khi nào sử dụng hết ma túy trên đĩa bị cáo sẽ lấy ra sử dụng; đối với ma túy thuốc lắc bị cáo cất trong túi quần là do bị cáo sợ bị rơi rớt nên bỏ vào bao nilong chung với ma túy khay. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy rằng khi bị cáo N đổ một phần ma túy khay ra đĩa, giữ phần còn lại trong bao nilong thì bị cáo lại bỏ thêm 1/3 viên thuốc lắc mà bị cáo vừa sử dụng vào chung với ma túy khay. Việc bị cáo N cho rằng bản thân cất 1/3 viên ma túy thuốc lắc vào bao nilong chứa ma túy khay do lo sợ bị rơi rớt là không phù hợp, bởi bị cáo hoàn toàn có thể để gói ma túy đó trên giường, nơi bị cáo đang sử dụng thay vì cất vào túi quần; thời điểm đó việc sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo vẫn đang diễn ra, chưa có dấu hiệu dừng lại; bị cáo H khai tại phiên tòa thời điểm bị bắt quả tang thì các bị cáo chỉ vừa mới sử dụng ma túy được 30 phút. Bên cạnh đó, mỗi lần bị cáo N và bị cáo H sử dụng thì chỉ sử dụng 1/3 viên ma túy thuốc lắc, lượng thuốc lắc mà bị cáo N tách ra cũng vừa đủ cho một lần sử dụng (tức 1/3 viên). Do đó, Hội đồng xét xử xác định lời khai của bị cáo N tại phiên tòa về việc tách ma túy chỉ nhằm mục đích trốn tránh việc bị truy cứu thêm một tội danh khác.
Đối với số ma túy thu giữ trên đĩa sứ, khi Công an quận T bắt quả tang thì các bị cáo vẫn đang sử dụng, bản thân bị cáo H khai nhận các bị cáo chỉ mới sử dụng được 30 phút thì bị bắt; số ma túy này bị cáo H mua về với mục đích sẽ sử dụng hết nhưng các bị cáo đang sử dụng thì bị bắt quả tang. Do đó, số ma túy khay và ma túy thuốc lắc bị cáo N cất giấu trong túi quần không có cùng mục đích sử dụng với số ma túy khay và ma túy thuốc lắc thu giữ trên đĩa sứ.
Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng là có cơ sở, việc các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm chỉ điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự là có dấu hiệu bỏ lọt hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị, hủy bản án sơ thẩm để giao hồ sơ về cấp sơ thẩm điều tra, truy tố, xét xử lại theo đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 355 và điểm a khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng nghị số 04/QĐ-VKS-P7 ngày 01/7/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng, tuyên hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2024/HS-ST ngày 05/06/2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng để điều tra lại theo thẩm quyền.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án, ngày 08/8/2024.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký và đóng dấu Bùi Trọng Danh |
Bản án số 150/2024/HS-PT ngày 31/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 150/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 10 giờ ngày 11/01/2024, tại nhà số B T, phường H, thành phố Đà Nẵng, Lê Đình Chánh H và Lê Thị Thanh N đang có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận T phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trên nền nhà, trong đĩa sứ 0,838gam ma túy loại Ketamine và 0,525gam ma túy loại MDMA; thu giữ trong túi quần bên trái của Lê Thị Thanh N 01 gói ni lông kích thước (04x7,5)cm, bên trong có 0,570gam ma túy loại Ketamine và 0,160gam ma túy loại MDMA; ngoài ra còn thu giữ công cụ tổ chức sử dụng ma túy và vật chứng khác có liên quan.
