Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 150/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 30-11-2023

V/v tranh chấp ly hôn,

tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Dung

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Phạm Thạch Út
  • 2/ Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt

-Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Anh Đào là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tố Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 256/2023/TLST- HNGĐ ngày 3 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 252/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 209/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14/11/2023 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Trần Thị Kim Hồng N, sinh năm: 1985 (Có đơn xin vắng mặt)

    Nơi cư trú: tổ E, ấp T, xã B, huyện C, An Giang

  • - Bị đơn: Anh Trần Thanh L, sinh năm: 1982 (Vắng mặt)

    Nơi cư trú: tổ E, ấp T, xã B, huyện C, An Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai cùng ngày 14/9/2023, nguyên đơn chị Trần Thị Kim Hồng N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Thanh L do mai mối và cùng thống nhất đi đến hôn nhân vào năm 2004. Chị và anh L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B. Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 08/KH, ngày 24/2/2004. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2016 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẩn, hay cự cải, tính tình không hợp. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Trần Thanh L.

- Về con chung: Có 02 con chung tên là Trần Văn Chế L1, sinh ngày 20/3/2004; Trần Vũ Duy K, sinh ngày 5/10/2012. Hiện cháu L1 đã trưởng thành, còn cháu K đang sống với chị N. Sau ly hôn chị N yêu cầu được nuôi dưỡng cháu K, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Trần Thanh L: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt và niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý, các thông báo về phiên họp kiểm tra về việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Trần Thanh L vẫn vắng mặt các buổi phiên họp giao nộp chứng cứ và hòa giải không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu xin ly hôn của chị N. Tòa án cũng tiến hành xác minh lại sự vắng mặt của anh L tại địa phương. Qua xác minh tại địa phương thì anh L hiện nay hộ khẩu thường trú vẫn ở ấp T, xã B, huyện C, An Giang, nhưng anh L vắng mặt tại nhà nên không lấy lời khai được.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu quan điểm cho rằng. Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng được pháp luật quy định tại Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, kết quả việc hỏi tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến đề nghị. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Trần Thị Kim Hồng N, cho chị N ly hôn với anh L. Về con chung: Đề nghị giao cháu Trần Vũ Duy K cho chị N nuôi dưỡng, anh L không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Trần Thanh L là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh L vẫn vắng mặt không lý do. Còn chị Trần Thị Kim Hồng N có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt chị Trần Thị Kim Hồng N và anh Trần Thanh L theo quy định pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Kim Hồng N và anh Trần Thanh L kết hôn với nhau vào năm 2004, hôn nhân do mai mối, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Do đó, hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Theo đơn chị N trình bày thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, hay cự cải, tính tình không hợp. Do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Trần Thanh L. Xét thấy thời gian chung sống hai bên đã phát sinh mâu thuẫn nhưng cả hai không tìm ra biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng dẫn đến vợ chồng ngày càng thêm mâu thuẫn. Trong thời gian ly thân hai bên không tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Trong thời gian giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy mời nhưng anh L cũng không đến và cũng không có văn bản gửi cho Tòa án để có ý kiến về việc xin ly hôn của chị N. Hiện tại chị N xác định không còn tình cảm với anh L. Tại đơn xin xét xử vắng mặt chị N cũng giữ nguyên phần trình bày trong đơn là chị vẫn cương quyết xin ly hôn. Do đó, hôn nhân của chị N và anh L không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N, là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung: Có 02 con chung tên là Trần Văn Chế L1, sinh ngày 20/3/2004; Trần Vũ Duy K, sinh ngày 5/10/2012. Hiện cháu L1 đã trưởng thành, còn cháu K đang sống với chị N. Sau ly hôn chị N yêu cầu được nuôi dưỡng cháu K. Xét thấy cháu K từ nhỏ đến nay sống với chị N, được chị N và gia đình chăm sóc. Tại văn bản trình bày ý kiến của cháu K ngày 14/9/2023 thì cháu có nguyện vọng sống với mẹ khi cha mẹ ly hôn. Do đó để thực hiện theo nguyện vọng của cháu Duy K và cũng tạo điều kiện cho chị N chăm sóc cháu, nghĩ nên để chị N được nuôi cháu Duy K là phù hợp, anh L không cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu anh L cấp dưỡng. Chị N phải tạo điều kiện thuận lợi cho anh L được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai cản trở khi anh thực hiện quyền này.

[2.3] Về tài sản và nợ chung: Chị chị Trần Thị Kim Hồng N trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[2.4] Về án phí: Do yêu cầu của chị chị Trần Thị Kim Hồng N được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng các điều 9, 53, 56, 58 Luật Hôn nhân gia đình 2014, các điều 28, 35, 147, 227, 228, 266, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Thị Kim Hồng N. Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Kim Hồng N và anh Trần Thanh L.

Giấy chứng nhận kết hôn số: 08/KH, ngày 24/02/2004 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Có 02 con chung tên là Trần Văn Chế L1, sinh ngày 20/3/2004; Trần Vũ Duy K, sinh ngày 5/10/2012. Hiện cháu L1 đã trưởng thành, còn cháu K đang sống với chị N. Sau ly hôn chị N được nuôi dưỡng cháu K, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị N phải tạo điều kiện thuận lợi cho anh K được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc cháu, không ai được cản trở khi anh thực hiện quyền này.

3. Về tài sản và nợ chung: Chị Trần Thị Kim Hồng N trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị Kim Hồng N phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0004459 ngày 3/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành.

5. Về kháng cáo: Chị Trần Thị Kim Hồng N và anh Trần Thanh L được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

  • - Những người tham gia tố tụng (để thi hành);
  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THA.DS huyện;
  • - Cơ quan đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ.

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Mỹ Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 150/2023/HNGĐ-ST ngày 30/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 150/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Trần Thị Kim Hồng N. Cho ly hôn giữa chị Trần Thị Kim Hồng N và anh Trần Thanh L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger