Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỊNH QUÁN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 150/2024/HS-ST.

Ngày: 27-9-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thanh Kỳ, ông Nguyễn Văn Đoàn

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thành Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Hữu Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 156/2024/TLST-HS ngày 05/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 170/2024/QĐXXST-HS ngày 13/9/2024.

- Điểm cầu Nhà tạm giữ Công an huyện Đ gồm bị cáo:

1. Nguyễn Hồng S – sinh năm 1999 tại Đồng Nai.

Nơi cư trú: Ấp B, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Thợ hàn; trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh H - 1977 và bà Vũ Thị Thanh T - 1979; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không.

Bị bắt, tạm giữ từ ngày 11/5/2024 đến 20/5/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà Tạm giữ Công an huyện Đ.

2. Trần Hoài Đ – sinh năm 2005 tại Đồng Nai.

Nơi cư trú: Ấp N, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh H1 - 1969 và bà Nguyễn Thị M - 1973; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 144/QĐ-XPHC ngày 18/4/2022 Công an huyện T xử phạt bị cáo 2.500.000đ về hành vi cố ý gây thương tích, (chấp hành xong ngày 19/4/2022).

Bị bắt, tạm giữ từ ngày 11/5/2024 đến 20/5/2024 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà Tạm giữ Công an huyện Đ.

- Điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân huyện Định Quán gồm:

- Người làm chứng: Chị Trần Minh T1 - 2006.

(Bị cáo có mặt, người làm chứng vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hồng S và Trần Hoài Đ đều là đối tượng nghiện ma túy.

Vào khoảng 19 giờ ngày 10/5/2024 các bị cáo đang nhậu tại chợ P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai thì có một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) đến chào bán ma túy. Do cả hai có nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo S mua một bịch ma túy của người phụ nữ trên với giá 500.000 đồng kèm theo nỏ thủy tinh và cất giấu vào chiếc balo của bị cáo S. Sau đó cả hai bị cáo cùng nhau bàn bạc, thống nhất địa điểm và phân chia nhiệm vụ bị cáo Đ chuẩn bị kéo, bật lửa và là người thuê phòng số 07 nhà nghỉ O thuộc ấp P, xã P, huyện Đ để cùng nhau sử dụng ma túy. Nhận phòng xong bị cáo S lấy bịch ma túy, nỏ thủy tinh đưa cho bị cáo Đ, sau đó Đ sử dụng kéo cắt bịch ma túy lấy một phần đổ vào nỏ thủy tinh rồi dùng bật lửa đốt phía dưới đáy nỏ để nấu ma túy và cùng nhau sử dụng ma túy tại phòng.

Đối với phần ma túy còn lại thì bị cáo S cất giấu trên kệ ti vi của của phòng số 7. Đến khoảng 11 giờ sáng ngày 11/5/2024 bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ cùng tang vật.

Vật chứng vụ án:

  • 01 bịch nylon được hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng được cất giấu trên kệ ti vi tại phòng số 7 nhà nghỉ O.
  • 01 nỏ thủy tinh; 01 chiếc kéo kim loại màu trắng; 01 bật lửa màu vàng ở chân giường.

Căn cứ Bản kết luận số 1024/KL-KTHS ngày 19/5/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ, xác định:

  • Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy có khối lượng 0,783 gam, loại Methamphetamine.
  • Mẫu chất màu trắng dính trong nỏ thủy tinh (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Theo Cáo trạng số 294/CT-VKSĐQ, ngày 04/9/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán truy tố bị cáo Nguyễn Hồng S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Trần Hoài Đ bị truy tố về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ phạm tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 55, 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm 06 tháng tù.

Tuyên bố bị cáo Trần Hoài Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Vật chứng vụ án:

  • 01 gói niêm phong mẫu vật ma túy (sau giám định) là vật cấm lưu hành và sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
  • 01 nỏ thủy tinh, 01 chiếc kéo kim loại màu trắng, 01 bật lửa màu vàng là công cụ dùng vào việc phạm tội, xét không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Các bị cáo không có ý kiến, không tranh luận.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định, tang vật của vụ án, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, nên đủ căn cứ kết luận:

Vào khoảng 19 giờ ngày 10/5/2024 sau khi bị cáo S mua ma túy xong, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo S và Đ đã cùng nhau bàn bạc thống nhất địa điểm, chuẩn bị công cụ (kéo, bật lửa, nỏ thủy tinh) để thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng số 07 nhà nghỉ O thuộc ấp P, xã P, huyện Đ. Khi bị phát hiện bắt quả tang thì trong nỏ thủy tinh còn dính chất ma túy, các bị cáo thừa nhận đã cùng nhau sử dụng chất ma túy.

Vào khoảng 11 giờ ngày 11/5/2024 tại phòng nghỉ số 7 trên, lực lượng Công an đã bắt quả tang bị cáo S đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, có khối lượng là 0,783 gam, loại Methamphetamine.

Do đó, hành vi của bị cáo S, Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự và hành vi của bị cáo S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án, tiền sự là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt: Đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” đây là vụ án đồng phạm giản đơn bị cáo S, Đ đều là người thực hành, có vai trò như nhau nên mức hình phạt ngang nhau, ngoài ra bị cáo S còn thực hiện thêm hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xét về tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới chế độ quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nước. Các bị cáo biết ma túy là chất gây nghiện có tác hại rất lớn đối với xã hội và người sử dụng, là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội do đó mọi hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy đều bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn thực hiện. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo để cải tạo giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.

Tuy nhiên do các bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như trên nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa ma túy, khối lượng còn lại sau giám định 0,697 gam là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 01 nỏ thủy tinh, 01 chiếc kéo kim loại màu trắng, 01 bật lửa màu vàng là công cụ dùng vào việc phạm tội, không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Về vấn đề khác:

Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho bị cáo S quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên tách ra xử lý sau.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hồng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 05 (năm) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/5/2024.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Trần Hoài Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/5/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

-Tịch thu tiêu hủy 01 nỏ thủy tinh, 01 chiếc kéo kim loại, 01 bật lửa và 01 phong bì niêm phong bên trong có chứa Methamphetamine, khối lượng còn lại sau giám định 0,697 gam.

(Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/9/2024).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện, tỉnh;
  • - Công an huyện ĐQ;
  • - Chi cục THADS huyện ĐQ;
  • - Sở tư pháp tỉnh ĐN;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Huyền Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 150/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về vụ án hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 150/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 150 ngày 27/9/2024 Nguyễn Hồng Sơn và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger