| TAND HUYỆN THAN UYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| TỈNH LAI CHÂU | Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
| Bản án số: 150/2024/HSST | |
| Ngày 26/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Quàng Thị Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà La Thị Thành
Ông Nguyễn Trung Kiên
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Thế - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Tòng Văn Thức - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 159/2024/TLST- HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2024/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn X; Sinh ngày 08/12/1992, tại huyện T, tỉnh Lai Châu;
Nơi cư trú: Bản Ít, xã M, huyện T, tỉnh Lai Châu; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Lò Văn H (không xác định được năm sinh, đã chết) và bà Lò Thị L, sinh năm 1966; Bị cáo có vợ là Lò Thị L, sinh năm 1992 và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/5/2024, tạm giam từ ngày 10/5/2024 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu. (Có mặt).
Người làm chứng:
- Tòng Văn H1.
- Vàng Văn L1.
(Cả hai người làm chứng đều vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lò Văn X cư trú tại bản Ít, xã M, huyện T, tỉnh Lai
Châu nhưng đến sống lang thang tại bản N, xã P, huyện T từ tháng 02 năm 2024. Theo Lò Văn X khai nhận: khoảng 09 giờ ngày 01/5/2024, Lò Văn X đi vào nhà một người đàn ông tên là “Sử” tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T thì gặp vợ của S có tên là “Kia” đang ở nhà. Qua nói chuyện, Lò Văn X đã mua của K 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh ni lon màu xanh) với số tiền 300.000 đồng, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Mua được H2, Lò Văn X cất giấu vào trong túi áo ngực không cho ai biết. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, khi Lò Văn X đang ở trong bản Noong Thăng, xã P, huyện T thì có Tòng Văn H1 (sinh năm 1994, trú tại bản Lun 1, xã T, huyện T) đến gặp Lò Văn X hỏi mua Heroine. Tòng Văn H1 đưa cho Lò Văn X một tờ tiền có mệnh giá 100.000 đồng, X nhận tiền rồi lấy gói Heroine trong túi áo ra, cấu lấy một ít, gói lại bằng mảnh ni lon màu xanh bán cho Tòng Văn H1. Khoảng 20 phút sau có Vàng Văn L1 (sinh năm 2002, trú tại bản Én Luông, xã M, huyện T) đến gặp Lò Văn X hỏi mua Heroine. Vàng Văn L1 đưa cho Lò Văn X một tờ tiền có mệnh giá 50.000 đồng, Lò Văn X nhận tiền rồi tiếp tục lấy gói Heroine ra, cấu một ít, gói lại bằng mảnh ni lon màu xanh bán cho Vàng Văn L1. Mua được Heroine của Lò Văn X, Tòng Văn H1 và Vàng Văn L1 đã mang đi sử dụng hết. Đối với số Heroine còn lại, Lò Văn X sử dụng hết bằng hình thức chích. Sau đó, Lò Văn X tiếp tục đi vào nhà người phụ nữ tên “Kia” mua 01 gói Heroine với số tiền 300.000 đồng, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Mua được H2, Lò Văn X cầm gói H2 đi vào một ngôi nhà hoang tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T nằm ngủ. Đến hồi 19 giờ 10 phút ngày 01/5/2024, khi Lò Văn X đang ở trong bản Noong Thăng thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ cạnh vị trí Lò Văn X đang nằm trong ngôi nhà hoang tại bản Noong Thăng 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh nilon màu xanh), Lò Văn X khai nhận đó là gói Heroine của mình. Ngoài ra còn thu giữ của Lò Văn X số tiền 250.000 đồng (gồm 02 tờ tiền có mệnh giá 100.000 đồng và 01 tờ tiền có mệnh giá 50.000 đồng).
Tại bản Kết luận giám định tư pháp số 33 ngày 01/5/2024 của người giám định theo vụ việc Công an huyện T và kết luận giám định số 504 ngày 04/5/2024 của phòng K2 Công an tỉnh L kết luận: mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của Lò Văn X có khối lượng 0,14 gam; là ma túy, loại: Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục ma tuý và tiền chất.
Tại bản Kết luận giám định số 509 ngày 05/5/2024 của phòng K2 Công an tỉnh L kết luận: số tiền 250.000 đồng thu giữ của Lò Văn X là tiền thật.
Vật chứng của vụ án gồm: 0,14 gam Heroine thu giữ của Lò Văn X, Cơ quan điều tra đã gửi giám định hết, không hoàn lại mẫu vật. Vật chứng còn lại là 02 mảnh ni lon màu xanh; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu và số tiền 250.000 đồng
hiện đang được lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.
Cáo trạng số 114/CT-VKS ngày 16/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tỉnh Lai Châu truy tố bị cáo Lò Văn X về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều khoản áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn X 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 mảnh ni lon màu xanh, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu; Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 150.000 đồng thu giữ của Lò Văn X do bị cáo phạm tội mà có, trả lại cho bị cáo 100.000 đồng không chứng minh được là do bị cáo phạm tội mà có.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Lò Văn X đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo nhất trí và không tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tranh tụng tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Người bào chữa cho bị cáo đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn X đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với bản Kết luận điều tra, bản Cáo trạng đã truy tố và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, như vậy có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 09 giờ ngày 01/5/2024, tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu, Lò Văn X đã mua trái phép 01 gói Heroine với số tiền 300.000 đồng, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, tại bản Noong Thăng, xã P, huyện T, Lò Văn X đã cấu lấy một ít Heroine gói lại bằng mảnh nilon màu hồng rồi bán cho Tòng Văn H1 lấy số tiền 100.000 đồng. Khoảng 40 phút sau, Lò Văn X tiếp tục bán cho Vàng Văn L1 01 gói Heroine lấy số tiền 50.000 đồng, số Heroine còn lại X sử dụng hết. Sau đó Lò Văn X tiếp tục mua 01 gói Heroine với số tiền 300.000 đồng, mục đích để bán kiếm lời thì bị bắt quả tang vào hồi 19 giờ 10 phút cùng ngày, vật chứng thu giữ của Lò Văn X là 01 gói Heroine có khối lượng 0,14 gam.
Bị cáo Lò Văn X là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Với mục đích thu lời bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma tuý, bị cáo đã có hành vi mua ma tuý về để bán kiếm lời. Trong ngày 01/5/2024, bị cáo hai lần, ở các thời điểm khác nhau bán ma tuý cho hai người là Tòng Văn H1 và Vàng Văn L1 thu lời bất chính số tiền 150.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo Lò Văn X đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên truy tố bị cáo về tội danh, điều khoản áp dụng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước ta đối với các chất ma túy và làm ảnh hưởng tới trật tự, trị an, an toàn xã hội tại địa phương do đó cần thiết phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Lò Văn X sinh ra lớn lên tại huyện T, tỉnh Lai Châu, bị cáo đã vợ và hai con còn nhỏ, bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo được sinh ra trong gia đình lao động nhưng không chịu khó làm ăn chân chính mà lại ăn chơi đua đòi, nghiện chất ma túy. Để có tiền tiêu sài cá nhân và có ma túy sử dụng cho nhu cầu bất hợp pháp của mình, bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội mua bán trái phép chất ma túy.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình và là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Bộ trưởng,
chủ nhiệm Ủy ban dân tộc nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, gia đình thuộc diện hộ cận nghèo, bản thân bị cáo nghề nghiệp trồng trọt, thu nhập không ổn định, bị cáo không đảm nhiệm chức vụ và không có tài sản gì đáng kể do đó Hội đồng xét xử không áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,14 gam Heroine thu giữ của Lò Văn X, Cơ quan điều tra đã gửi giám định hết, không hoàn lại mẫu vật nên không phải giải quyết. Đối với 02 mảnh ni lon màu xanh, 01 vỏ bì niêm phong ban đầulà những vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy; Đối với số tiền 250.000 đồng thu của bị cáo Lò Văn X, trong đó xác định có 150.000 đồng là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước, trả lại cho bị cáo 100.000 đồng không chứng minh được do bị cáo phạm tội mà có theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lò Văn X là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc diện hộ cận nghèo, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí. Do đó, căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng xét xử miễn cho bị cáo 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Như vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, cần thiết phải có mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục cho bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên về hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.
[9] Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.
[10] Những vấn đề liên quan:
Về nguồn gốc Heroine, bị cáo Lò Văn X khai mua của một người phụ nữ tên “Kia” nhà ở bản N, xã P, huyện T. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại bản N, xã P, huyện T, tỉnh Lai Châu có công dân tên Cứ Thị K1, sinh năm 1998 có chồng tên là Giàng A S1, sinh năm 1976. Tuy nhiên, hiện nay Cứ Thị K1
không có mặt tại địa phương, gia đình không biết K1 đi đâu, làm gì, do vậy khi nào điều tra làm rõ hành vi của Cứ Thị K1 sẽ xử lý sau.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Tòng Văn H1 và Vàng Văn L1, Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.
Tại Cơ quan điều tra, Lò Văn X còn khai nhận: sau khi bán Heroine cho Tòng Văn H1 và Vàng Văn L1, Lò Văn X còn bán 01 gói Heroine cho một người phụ nữ không rõ lai lịch lấy số tiền 100.000 đồng. Ngoài lời khai duy nhất của Lò Văn X, không còn chứng cứ nào khác để chứng minh nên chưa có đủ căn cứ để xử lý đối với Lò Văn X về lần bán trái phép chất ma túy này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự;
- - Căn cứ điểm b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn X phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn X 07 (Bảy) năm 06 (S2) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 01/5/2024.
- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 Phong bì bên trong đựng 02 mảnh nilon màu xanh, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 150.000 đồng (Một trăm năm mươi nghìn đồng). Trả lại cho bị cáo Lò Văn X số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng).
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo như biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 17 tháng 9 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn cho bị cáo Lò Văn X 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA ĐÃ KÝ Quàng Thị Phương |
Bản án số 150/2024/HSST ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 150/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Lò Văn X 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 01/5/2024.
