Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số:150/2024/HS - ST

Ngày: 22/10/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Phạm Ngọc Diện

+ Bà Lài Thị Thu Hà

- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Phương – là Thư ký Toà án nhân dân huyện Lâm Hà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Lịch - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 146/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Doãn T, tên gọi khác: không, sinh năm 1988, tại Hải Dương; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Lê Thị L; có vợ là Phạm Thị N (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện L; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Tiến T2, tên gọi khác: không, sinh năm 1995, tại Lâm Đồng; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: thôn M, xã H, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N1 và bà Nguyễn Thị H; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện L; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Nguyễn Công M, tên gọi khác: không, sinh năm 1995, tại Lâm Đồng; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: thôn Đ, xã H, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công N2 và bà

2

Nguyễn Thị H1; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện L; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Khuất Văn T3, sinh năm 1993

Địa chỉ: thôn F, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Nguyễn Công M đã dùng tài khoản mạng xã hội facebook tên “Tuyền Lâm Đồng” của M để tìm trang mạng bán ma túy. Sau đó, M tìm thấy một trang mạng và nhắn tin hỏi mua ma túy với số tiền 2.000.000đồng loại ma túy đá thì tài khoản này đồng ý. Sau đó, M để lại số điện thoại của M và địa chỉ nhà của M tại thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Lâm Đồng để nhận ma túy. Khoảng 02 ngày sau, khi M đang ở nhà thì có người nhân viên giao hàng đến giao cho M một hộp giấy carton. M mở hộp giấy ra xem thì thấy bên trong có chứa một gói nilon lớn và một gói nilon nhỏ đều chứa ma túy loại ma túy đá. M nhận hộp giấy bên trong có ma túy rồi đưa số tiền 2.000.000đồng cho người nhân viên này. Sau đó, M cầm hộp giấy carton chứa ma túy đi vào phòng ngủ của mình rồi lấy ma túy cất giấu trong hộp nhựa màu hồng để trên đầu giường ngủ. Khi M ở nhà một mình thì có lấy một ít ma túy đá trong gói nilon nhỏ cất giấu trong hộp nhựa ra cho vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy rồi sử dụng ma túy một mình. Số ma túy còn lại, M cất giấu vào vị trí cũ tại nhà ở của mình.

Đến ngày 21/4/2024, M cầm hộp nhựa chứa 02 gói ma túy cất giấu vào trong người rồi ra đường đi nhờ xe người qua đường đến nhà của Nguyễn Doãn T để chơi. Khi M đến nơi thì T hỏi M có ma túy không để xin sử dụng thì M đồng ý. M đi xuống phòng nuôi tằm gần bếp của nhà T lấy một cái kéo kim loại cắt vát ống hút nhựa rồi xúc một ít ma túy từ túi nilon lớn cho vào mảnh giấy bạc rồi quấn lại. M thấy T đi từ trên nhà xuống thì M đưa gói giấy bên trong có ma túy vừa phân ra đưa cho T rồi M đi về nhà có việc, không sử dụng ma túy chung với T.

Khi M đi về, thì T cầm gói ma túy mà M vừa cho đi vào phòng nuôi tằm rồi lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy mà T tự chế tạo trước đó và một ống hút nhựa đã cắt một đầu xúc ma túy đổ vào cóng thủy tinh để sử dụng một mình. Khi T sử dụng xong, T cất giấu bộ D1 sử dụng ma túy vẫn còn dính lại ít ma túy trong cóng vào góc tường gần né nuôi tằm. Một lúc sau, Nguyễn Tiến T2 đến nhà Tân chơi, sau khi hái xoài ăn rồi đi vào phòng nuôi tằm của nhà T. Lúc này T cũng đi vào gặp T2, tại đây T2 thấy trong phòng có một bộ dụng cụ sử dụng ma túy có sẵn ma túy bên trong nên T2 xin T sử dụng ma túy thì T đồng ý. Lúc này, T2 tự lấy bộ dụng cụ có chứa ma túy ra rồi sử dụng một mình. Trong lúc T2 sử dụng ma túy, T2 có rủ T sử dụng cùng nhưng T không nói gì mà đi lấy đồ ăn trong tủ lạnh rồi quay lại ngồi cạnh T2. Tại đây, T2 cầm dụng cụ sử dụng ma túy và dùng

3

bật lửa đốt cho T sử dụng, T sử dụng xong thì T2 tự sử dụng. Cả hai sử dụng đến khi hết ma túy thì T cất giấu dụng cụ sử dụng ma túy vào góc tường trong phòng nuôi tằm rồi đi lên phòng ngủ của mình còn T2 nằm nghỉ ở phòng nuôi tằm. Một lúc sau, M đến nhà của T và đi vào phòng nuôi tằm gặp T2, cả hai ngồi nói chuyện một lúc thì T2 đi ngủ trước. Khi T2 đang ngủ thì M lấy hộp nhựa màu hồng bên trong có 02 gói nilon chứa ma túy cất giấu trong người khi đến nhà T để vào trong túi nilon màu đen treo trên tường rồi đi ngủ.

Do trước đó Tân tự trồng được một cây cần sa rồi thu hoạch, phơi khô tách lấy hoa cho vào một hộp nhựa để hút còn cành, lá cho vào một túi nilon cất giấu dưới phòng bếp để chăn nuôi tằm. Sáng ngày 22/4/2024, T ngủ dậy lấy một hộp nhựa chứa cần sa và một bộ dụng cụ hút cần sa để tại phòng ngủ rồi sử dụng một mình. Sau khi sử dụng xong, T cất bộ dụng cụ và hộp chứa cần sa ở sau cánh cửa trong phòng ngủ của T. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, M và T2 ngủ dậy đi vào phòng ngủ của T, cả ba ngồi chơi và nói chuyện cùng nhau, một lúc sau thì Khuất Văn T3 đến rồi đi vào phòng ngủ của T và cả nhóm ngồi nói chuyện cùng nhau. Khi cả nhóm đang nói chuyện trong phòng thì T3 thấy có một hộp nhựa chứa cần sa và một bộ dụng cụ để hút cần sa để ở sau cánh cửa, T3 hỏi T cho T3 sử dụng thì T không nói gì. Sau đó T hỏi T3 có tiền không để mua nước cho cả nhóm cùng uống, T3 đưa số tiền 30.000 đồng, T cầm tiền đi ra ngoài mua nước. Trong lúc T ra ngoài để mua nước thì T3 lấy bộ dụng cụ sử dụng cần sa để sau cánh cửa ra sử dụng một mình. Khi sử dụng xong, T3 để lại dụng cụ và hộp nhựa chứa cần sa xuống nền nhà. Lúc này, T mua nước về thì vào phòng cùng ngồi chơi với cả nhóm. Khi cả nhóm đang ngồi chơi nói chuyện ở trong phòng ngủ của T thì lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang và thu giữ niêm phong toàn bộ tang vật và đưa các đối tượng về trụ sở làm việc. Tại cơ quan Công an các đối tượng đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Vật chứng, tài sản thu giữ gồm: 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy; 01 gói nilon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy; 01 túi nilon màu xanh bên trong có chứa lá cây thực vật khô nghi là cần sa; 01 hộp nhựa có nắp bên trong có chứa vụn lá cây thực vật khô nghi là cần sa; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 màu đen đã qua sử dụng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm một chai nhựa màu xanh có ghi chữ “nước yến nha đam” không có nắp, phía dưới thân có gắn ống tròn bằng gỗ màu nâu; 01 quẹt ga màu đỏ; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm chai nhựa có quấn keo màu xanh bên trên có nắp màu đỏ, trên nắp có gắn 01 ống hút nhựa màu trắng và 01 cóng thủy tinh (một đầu hình bầu tròn có lỗ); 01 quẹt gas màu xanh; 01 quẹt gas màu vàng không có nắp được gắn 01 ống kim loại màu trắng bạc; 01 kéo kim loại có cán màu đỏ; 01 đoạn ống nhựa một đầu cắt vát; 01 mảnh giấy bạc màu trắng.

Tại kết luận giám định số 498/KL-KTHS ngày 26/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận:

Mẫu lá cây thực vật khô đựng trong một túi nilon được niêm phong gởi giám định là ma túy, có khối lượng 169,63g là cần sa;

4

Mẫu lá cây thực vật khô đựng trong một hộp nhựa được niêm phong gởi giám định là ma túy, có khối lượng 0,8368g là cần sa;

Mẫu tinh thể đựng trong hai gói nilon được niêm phong gởi giám định là ma túy có khối lượng 6,0482g loại methaphetamine.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Cần sa là chất ma túy nằm trong danh mục ID, STT: 01, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số 154/CT-VKS ngày 16/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử bị can Nguyễn Doãn T về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị can Nguyễn Tiến T2 về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị can Nguyễn Công M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng thực hành quyền công tố luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Tiến T2 về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Công M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đồng thời đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà rút một phần Quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Doãn T, truy tố bị cáo Nguyễn Doãn T về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Doãn T và bị cáo Nguyễn Tiến T2 mỗi bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù; áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Công M từ 05 đến 06 năm tù.

Về xử lý vật chứng đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật; Về án phí buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Các bị cáo xác định quá trình điều tra các bị cáo không bị ép cung, dùng nhục hình và lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra là đúng với diễn biến sự việc xảy ra. Các bị cáo đồng ý với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

5

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo và tình tiết định khung hình phạt:

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận vào ngày 21/4/2024, tại nhà của bị cáo Nguyễn Doãn T tại thôn N, xã H, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, bị cáo T đã có hành vi sử dụng địa điểm do mình quản lý, cung cấp ma túy và dụng cụ sử dụng chất ma túy để Nguyễn Tiến T2 sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của bị cáo T. Còn bị cáo T2 đã có hành vi cầm dụng cụ sử dụng ma túy, dùng bật lửa đốt ma túy trong cóng thủy tinh đưa cho Nguyễn Doãn T sử dụng. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Công M có hành vì cất giấu, tàng trữ trái phép chất ma túy là Methamphetamine, có khối lượng 6,0482g (Sáu phẩy không bốn tám hai gam) nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang.

Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tang vật thu giữ và những tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Nguyễn Tiến T2 phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Công M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Đối với bị cáo Nguyễn Doãn T, tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã rút một phần quyết định truy tố, đề nghị xét xử bị cáo T về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự. Đối chiếu lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì thấy rằng bị cáo T đã có hành vi sử dụng địa điểm là nhà của mình, cung cấp ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy để T2 sử dụng và đốt cho T sử dụng chứ T không có hành vi chỉ huy, phân công, điều hành các hoạt động đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác. Còn việc ngày 22/4/2024 T3 đến nhà T nhìn thấy bộ dụng cụ hút cần sa treo ở sau cánh cửa phòng ngủ thì có nói với T cho sử dụng và sau khi T đi ra ngoài thì T3 tự lấy sử dụng một mình chứ T không tổ chức cho T3 sử dụng. Như vậy, việc đại diện Viện kiểm sát căn cứ vào Điều 319 của Bộ luật Tố tụng Hình sự để rút một phần quyết định truy tố đối với bị cáo T là có cơ sở. Hành vi của bị cáo T đã phạm vào tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự theo quan điểm truy tố của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội.

6

[3]. Xét tính chất vụ án nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, do đó các bị cáo biết rõ việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi trái pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, đồng thời còn tác động xấu đến tình hình trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương, là nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác, đồng thời cũng là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác trong xã hội. Tuy nhiên, để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy các bị cáo đã không nghĩ đến tác hại của loại độc dược này đối với chính bản thân mình mà bị cáo M đã mua ma túy về cất giữ nhằm mục đích sử dụng; bị cáo T chuẩn bị dụng cụ sử dụng chất ma túy để bị cáo T2 sử dụng và đốt cho T sử dụng thì đã bị phát hiện bắt quả tang. Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: xét thấy các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên không thuộc trường hợp áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đồng thời, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5]. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm này, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo có cơ hội cải tạo, rèn luyện trở thành người công dân tốt, biết tuân thủ pháp luật. Trong vụ án này, giữa T và T2 không có sự bàn bạc, câu kết với nhau từ trước mà thực tế khi T2 đến nhà Tân chơi nhìn thấy bộ sử dụng ma túy nên xin T cho sử dụng sau đó T đến ngồi gần T2 thì T2 đốt ma túy cho T sử dụng. Do đó cần xem xét mức hình phạt của T cao hơn T2 là phù hợp.

[6]. Đối với Khuất Văn T3, quá trình điều tra xác định T3 chỉ có hành vi sử dụng ma túy mà không có hành vi giúp sức cho người khác sử dụng ma túy nên không cấu thành tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 255 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T3 đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình nên Công an huyện L lập hồ sơ xử phạt hành chính đối với T3. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

Đối với hành vi cất giấu ma túy có khối lượng 170,6668g là cần sa của Nguyễn Doãn T nhằm mục đích sử dụng và chăn nuôi nhưng chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên hành vi trên của T đã vi phạm điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, Công an huyện L lập hồ sơ xử phạt hành chính đối với T về hành vi này với mức xử phạt tiền là 3.500.000đồng. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

Đối với tài khoản trên mạng xã hội facebook đã bán ma túy cho Nguyễn Công M theo lời khai của M thì M không nhớ cụ thể và không biết lai lịch của người bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến

7

hành xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.

Đối với chủ nhà là bà Lê Thị L, quá trình điều tra xác định khi Nguyễn Doãn T, Nguyễn Tiến T2, Khuất Văn T3 sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của bà thì bà L không có mặt tại nhà và không biết sự việc trên nên không xem xét xử lý.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính ra, các bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Xét thấy, các bị cáo là người nghiện ma túy không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[8]. Xử lý vật chứng: qua xem xét các vật chứng thu giữ đã được cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L chuyển giao sang chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, Hội đồng xét xử xét thấy:

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 màu đen đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Công M, Lê Anh T4 và dấu tròn đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Đây là điện thoại bị cáo M dùng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đối với 01 (một) phong bì được niêm phong ghi số 498/2024 có chữ ký ghi họ tên Võ Như T5, Hoàng Thị Thanh H2, Nguyễn Đình D và hinh dấu tròn đỏ của phòng K - Công an tỉnh L; 01(một) hộp giấy được niêm phong ghi số 498/2024 có chữ ký ký ghi họ tên Võ Như T5, Hoàng Thị Thanh H2, Nguyễn Đình D và dấu tròn đỏ của phòng K - Công an tỉnh L. Đây là phong bì và hộp giấy đựng ma túy nhà nước cấm lưu hành nên tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 quẹt gas màu xanh; 01 quẹt gas màu vàng không có nắp được gắn 01 ống kim loại màu trắng bạc; 01 kéo kim loại có cán màu đỏ; 01 đoạn ống nhựa một đầu cắt vát; 01 mảnh giấy bạc màu trắng được niêm phong trong một phong bì bên ngoài đánh số 03 có chữ ký ghi tên Nguyễn Đình D, Nguyễn Doãn T, Nguyễn Công M, Nguyễn Tiến T2, Khuất Văn T3, Lê Quang Rô M1 và dấu tròn đỏ của Công an xã H, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm một chai nhựa màu xanh có ghi chữ “nước yến nha đam” không có nắp, phía dưới thân có gắn ống tròn bằng gỗ màu nâu; 01 quẹt ga màu đỏ; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm chai nhựa có quấn keo màu xanh bên trên có nắp màu đỏ, trên nắp có gắn 01 ống hút nhựa màu trắng; 01 kéo kim loại có cán màu đỏ được niêm phong trong một túi giấy màu vàng bên ngoài dán giấy niêm phong

có chữ ký của Hoàng Công P, Nguyễn Doãn T, Nguyễn Công M, Nguyễn Tiến T2, Khuất Văn T3, Lê Quang Rô M1 và dấu tròn đỏ của Công an xã H, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Đây là công cụ bị cáo tân và T2 sử dụng thực hiện hành vi phạm tội nên tuyên tịch thu tiêu hủy.

[9]. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

8

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Doãn T và bị cáo Nguyễn Tiến T2 phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Công M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    1. 1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

      Xử phạt: bị cáo Nguyễn Doãn T 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2024.

    2. 1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

      Xử phạt: bị cáo Nguyễn Tiến T2 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2024.

    3. 1.3. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

      Xử phạt: bị cáo Nguyễn Công M 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015

    Tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 8 màu đen đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì bên ngoài có chữ ký của Nguyễn Công M, Lê Anh T4 và dấu tròn đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

    Tuyên tịch thu tiêu hủy:

    01 (một) phong bì được niêm phong ghi số 498/2024 có chữ ký ghi họ tên Võ Như T5, Hoàng Thị Thanh H2, Nguyễn Đình D và hình dấu tròn đỏ của phòng K - Công an tỉnh L; 01(một) hộp giấy được niêm phong ghi số 498/2024 có chữ ký ký ghi họ tên Võ Như T5, Hoàng Thị Thanh H2, Nguyễn Đình D và dấu tròn đỏ của phòng K - Công an tỉnh L.

    01 quẹt gas màu xanh; 01 quẹt gas màu vàng không có nắp được gắn 01 ống kim loại màu trắng bạc; 01 kéo kim loại có cán màu đỏ; 01 đoạn ống nhựa một đầu cắt vát; 01 mảnh giấy bạc màu trắng được niêm phong trong một phong bì bên ngoài đánh số 03 có chữ ký ghi tên Nguyễn Đình D, Nguyễn Doãn T, Nguyễn Công M, Nguyễn Tiến T2, Khuất Văn T3, Lê Quang Rô M1 và dấu tròn đỏ của Công an xã H, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm một chai nhựa màu xanh có ghi chữ “nước yến nha đam” không có nắp, phía dưới thân có gắn ống tròn bằng gỗ màu nâu; 01 quẹt ga màu đỏ; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm chai nhựa có quấn keo màu xanh bên trên có nắp màu đỏ, trên nắp có gắn 01 ống hút nhựa màu trắng; 01 kéo kim loại có cán màu đỏ được niêm phong trong một túi giấy màu vàng bên ngoài dán giấy niêm phong

    có chữ ký của Hoàng Công P, Nguyễn Doãn T, Nguyễn Công M, Nguyễn Tiến T2, Khuất Văn T3, Lê Quang Rô M1 và dấu tròn đỏ của Công an xã H, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

    (Tất cả có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 16/9/2024 tại chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng).

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (22/10/2024), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kề từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Lâm Đồng (02);

- Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;

- VKS, CA huyện Lâm Hà;

- VKSND tỉnh Lâm Đồng;

- Chi cục THADS huyện Lâm Hà;

- Bị cáo; người tham gia tố tụng.

- Lưu HS - BP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thúy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 150/2024/HS - ST ngày 22/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 150/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Doãn T cùng đp Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger