|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI -------------------- Bản án số:150/2024/HS-ST Ngày: 22/07/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc -------------------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ- TP HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Tự Hiếu
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Vinh và ông Nguyễn Đức Thành
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa- Cán bộ Toà án nhân dân huyện Thanh Trì
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên toà: Bà Mai Thị Phượng- Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 07 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Trì mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 146/2023/TLST- HS ngày 04/07/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 146/2024/QĐXXST- HS ngày 08/07/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Tuấn T, sinh năm 1995. HKTT và chỗ ở: Thôn A, xã V, huyện T, TP .; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Họ và tên bố: Nguyễn Văn T1; Họ và tên mẹ: Lã Thị T2, V: Lê Thị Khánh L (Đã ly hôn), có 03 con: Lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2022
Theo danh chỉ bản số 248 ngày 19/04/2024 của Công an huyện T và lý lịch địa phương cung cấp bị cáo 01 có tiền án: Bản án số 262/2021/HSST ngày 29/11/2021, Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng".
Bị cáo bắt quả tang và bị tạm giữ từ ngày 10/04/2024 đến ngày 12/04/2024. Hiện đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà
2. Họ và tên: Nguyễn Duy K, sinh năm 1997. HKTT và chỗ ở: Thôn B, xã V, huyện T, TP .; Quốc tịch: Việt Nam,; Dân tộc: Kinh,; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; Họ và tên bố: Nguyễn Văn K1; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị P; Vợ: Đặng Thị H, có 02 con: Lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2022
Theo danh chỉ bản số 250 ngày 19/04/2024 của Công an huyện T và lý lịch địa phương cung cấp, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự
Bị cáo bắt quả tang và bị tạm giữ từ ngày 10/04/2024 đến ngày 12/04/2024. Hiện đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà
3. Họ và tên: Lã Ngọc S, sinh năm 1994. HKTT và chỗ ở: Thôn A, xã V, huyện T, TP .; Quốc tịch: Việt Nam,; Dân tộc: Kinh,; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; Họ và tên bố: Lã Văn L1; Họ và tên mẹ: Trần Thị H1; Vợ: Đặng Thị Mai L2, có 02 con: Lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2019
Theo danh chỉ bản số 247 ngày 19/04/2024 của Công an huyện T và lý lịch địa phương cung cấp, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự
Bị cáo bắt quả tang và bị tạm giữ từ ngày 10/04/2024 đến ngày 12/04/2024. Hiện đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà
4. Họ và tên: Ngô Sỹ N, sinh năm 2001. HKTT và chỗ ở: Thôn B, xã V, huyện T, TP .; Quốc tịch: Việt Nam,; Dân tộc: Kinh,; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; Họ và tên bố: Ngô Văn T3; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Thúy H2
Theo danh chỉ bản số 246 ngày 19/04/2024 của Công an huyện T và lý lịch địa phương cung cấp bị cáo chưa có tiền án, tiền sự
Bị cáo bắt quả tang và bị tạm giữ từ ngày 10/04/2024 đến ngày 19/04/2024. Hiện đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà
5. Họ và tên: Phạm Văn T4, sinh năm 1986. HKTT: Thôn C, xã V, huyện T, TP .; Chỗ ở: Thôn B, xã V, huyện T, TP .; Quốc tịch: Việt Nam,; Dân tộc: Kinh,; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; Họ và tên bố: Phạm Văn K2; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H3; Vợ: Hoàng Thị L3, có 03: Lớn con sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2012
Theo danh chỉ bản số 251 ngày 19/04/2024 của Công an huyện T và lý lịch địa phương cung cấp bị cáo chưa có tiền án, tiền sự
Bị cáo bắt quả tang và bị tạm giữ từ ngày 10/04/2024 đến ngày 12/04/2024. Hiện đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà
6. Họ và tên: Phạm Văn T5, sinh năm 1990. HKTT và chỗ ở: Thôn B, xã V, huyện T, TP .; Quốc tịch: Việt Nam,; Dân tộc: Kinh,; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 11/12; Họ và tên bố: Phạm Văn H4; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị M.
Theo danh chỉ bản số 249 ngày 19/04/2024 của Công an huyện T và lý lịch địa phương cung cấp bị cáo chưa có tiền án, tiền sự
Bị cáo bắt quả tang và bị tạm giữ từ ngày 10/04/2024 đến ngày 12/04/2024. Hiện đang bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 20 phút ngày 10/4/2024, sau khi đi uống rượu về, Nguyễn Tuấn T cùng Nguyễn Duy K, Phạm Văn T4, Ngô Sỹ N, Phạm Văn T5, Lã Ngọc S cùng rủ nhau đánh bạc sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức chơi xóc đĩa. T rủ K, T4, N1, T5 và S về căn lều thuộc khu đất nông nghiệp của ông Nguyễn Văn L4, sinh năm 1976, trú tại thôn A, xã V, huyện T, Hà Nội là chú ruột của T thuộc khu vực trước cổng trường Tiểu học V1 thuộc thôn A, xã V, huyện T, Hà Nội để chơi. Do ông L4 trước đó cho T mượn chìa khóa để vào chăm sóc gà nên T đã mở cửa căn lều cho các đối tượng vào trong rồi khóa cửa lại để ngồi đánh bạc. Tại căn lều, T đi lấy 01 bộ bát đĩa bằng sứ còn K đi cắt 04 quân vị hình tròn để phục vụ việc đánh bạc. Các đối tượng thống nhất cách chơi như sau: Sử dụng 01 bộ bát đĩa sứ và 04 quân vị hình tròn có một mặt xanh, một mặt đỏ đề phục vụ cho việc đánh bạc, quy ước: Nếu ra 04 quân vị hoặc 2 quân vị cùng màu thì là chẵn, nếu ra 1 quân vị hoặc 03 quân vị khác màu thì là lẻ. Bên tay trái của người cầm cái là cửa lẻ, bên tay phải người cầm cái là cửa chẵn. Người cầm cái cho 04 quân vị vào trong bộ bát đĩa và xóc lên rồi đặt xuống, những người chơi còn lại đặt tiền vào các cửa chẵn, lẻ. Đặt cược thấp nhất là 100.000 đồng, cược số tiền lớn hơn phụ thuộc vào nhà cái đồng ý cho cược. Kết quả xóc quân vị đúng mặt người chơi đã chọn thì sẽ thắng và được bằng số tiền đã đặt cược, nếu đặt cược sai mặt thì sẽ bị thua số tiền đã đặt cho T. T là người cầm cái toàn bộ quá trình đánh bạc, không có ai cảnh giới, thu tiền hồ.
Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 14 giờ 40 phút thì bị tổ công tác Đ - Công an huyện T bắt quả tang, thu giữ tổng số tiền 19.600.000 đồng (trong đó thu tại chiếu bạc số tiền 5.700.000 đông, thu giữ tại vị trí ngồi của T số tiền 5.200.000 đồng, thu giữ tại vị trí ngồi của K số tiền 1.500.000 đồng, thu giữ tại vị trí ngồi của T4 số tiền 500.000 đồng, thu giữ tại vị trí ngồi của T5 số tiền 2.300.000 đồng, thu giữ tại vị trí ngồi của Sinh số tiền 4.400.000 đồng) cùng 01 bộ bát đĩa sứ và 04 quân vị.
Tại Cơ quan Điều tra, các đối tượng khai nhận về số tiền đánh bạc như sau:
Nguyễn Tuấn T mang theo số tiền 3.000.000 đồng và sử dụng hết số tiền trên đề đánh bạc. Khi bị bắt, T đang thắng số tiền 2.200.000 đồng. Thu giữ dưới chiếu bạc trước mặt T số tiền 5.200.000 đồng.
Ngô Sỹ N mang theo và sử dụng hết số tiền 1.200.000 đồng đề đánh bạc và đã chơi thua hết. Thời điểm bị bắt quả tang, N đang ngồi xem mọi người đánh bạc.
Nguyễn Duy K mang theo và sử dụng hết số tiền 6.500.000 đồng để đánh bạc. Khi bị bắt, K bị thua số tiền 5.000.000 đồng. Số tiền ở vị trí ngồi của K bị cơ quan Công an thu giữ là 1.500.000 đồng.
Phạm Văn T4 mang theo và sử dụng hết số tiền 2.100.000 đồng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, T4 bị thua số tiền 1.600.000 đồng. Số tiền ở vị trí ngồi của T4 bị cơ quan Công an thu giữ là 500.000 đồng.
Phạm Văn T5 mang theo và sử dụng hết số tiền 4.800.000 đồng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, T5 bị thua số tiền 2.500.000 đồng. Số tiền ở vị trí ngồi của T5 bị cơ quan Công an thu giữ là 2.300.000 đồng.
Lã Ngọc S mang theo và sử dụng hết số tiền 2.000.000 đồng để đánh bạc. Quá trình đánh bạc, S đang thắng số tiền 2.400.000 đồng. Số tiền ở vị trí ngồi của S bị cơ quan Công an thu giữ là 4.400.000 đồng.
Đối với ông Nguyễn Văn L4: Ông L4 không biết, không cho phép các đối tượng trên đánh bạc tại lều thuộc khu đất nông nghiệp do ông quản lý nên Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý.
Về vật chứng thu giữ: 01 bộ bát đĩa bằng sứ màu trắng, 04 quân bị hình tròn và số tiền 19.600.000 đồng là vật chứng của vụ án nên cần tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Bản cáo trạng số 143/CT-VKS-TT ngày 02/07/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố các bị cáo Nguyễn Tuấn T, Nguyễn Duy K, Lã Ngọc S, Ngô Sỹ N, Phạm Văn T4 và Phạm Văn T5 về hành vi “Đánh bạc" khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
- Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, không kêu oan, các bị cáo đều nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì duy trì công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo bản cáo trạng nêu trên. Sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đề nghị như sau:
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Tuấn T mức án từ 12 -15 tháng tù
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Duy K mức án từ 10 -12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 20 – 24 tháng
Xử phạt: Lã Ngọc S mức án từ 8 -10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 – 20 tháng.
Xử phạt: Ngô Sỹ N mức án từ 6 - 8 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 – 16 tháng.
Xử phạt: Phạm Văn T4 mức án từ 8 -10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 – 20 tháng.
Xử phạt: Phạm Văn T5 mức án từ 9 -11 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 – 22 tháng.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho các bị cáo
G các bị cáo K, S, N, T4 và T5 về chính quyền địa phương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 19.600.000 đồng.
Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bát đĩa bằng sứ màu trắng, 04 quân vị hình tròn
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về hành vi tố tụng của Cơ quan CSĐT- Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với các quy định của pháp luật. Các bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, tang vật chứng thu giữ và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ cũng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì.
Hội đồng xét xử có đầy đủ cơ sở kết luận: Hồi 14 giờ 50′ ngày 10/04/2024, tại căn lều dựng tạm của ông Nguyễn Văn L4 tại thôn A xã V, huyện T, TP . khi Nguyễn Tuấn T, Nguyễn Duy K, Lã Ngọc S, Ngô Sỹ N, Phạm Văn T4 và Phạm Văn T5 đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức chơi sóc đĩa thì bị Tổ công tác Đ - Công an huyện T bắt quả tang, thu giữ tổng số tiền 19.600.000 đồng cùng 01 bộ bát đĩa sứ và 04 quân vị hình tròn.
[3]. Hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì đã đưa ra các chứng cứ buộc tội và truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[4]. Xét vai trò của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Đây là vụ án có đồng phạm nhưng chỉ mang tính chất giản đơn. Các bị cáo không ai khởi xướng cùng rủ nhau đánh bạc. Tuy nhiên cần xác định bị cáo T là người có vai trò cao nhất trong vụ án là người chuẩn bị công cụ đánh bạc và cầm cái nên có mức án cao nhất, bị cáo K là người cắt quân vị để phục vụ đánh bạc và sử dụng số tiền nhiều nhất nên có vai trò thứ hai nên mức án thấp hơn bị cáo T, bị cáo T5 sử dụng số tiền đánh bạc ít hơn bị cáo K nên có mức án thấp hơn bị cáo K, bị cáo T4 và bị cáo S có số tiền đánh bạc tương đương nhau nên có mức án tương đương, đối với bị cáo N sử dụng số tiền đánh bạc ít nhất nên có mức án thấp nhất.
[5]. Xét nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy, bị cáo T có 01 tiền án: Bản án số 262/2021/HSST ngày 29/11/2021, Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng". Chấp hành xong thời gian thử thách ngày 29/11/2023. Bản án này chưa được xóa án tích, phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Đối với các bị cáo K, S, N, T4 và T5 nhân thân chưa có tiền án, tiền sự.
[6]. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, cờ bạc là tệ nạn mà Nhà nước đang kiên quyết loại trừ, là nguyên nhân làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, xói mòn giá trị đạo đức và là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác do đó cần phải áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe và đấu tranh phòng ngừa chung.
[7]. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét thấy tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mẹ ốm đau, bệnh tật, vợ chồng đã ly hôn, hiện bị cáo đang nuôi 02 con nhỏ được UBND xã V xác nhận nên bị cáo được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với các bị cáo K, S, N, T4 và T5 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng do đó được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[8]. Xét bị cáo K, S, N, T4 và T5 có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu tiên bị đưa ra xét xử nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và cũng không ảnh hưởng đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, phù hợp với Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/04/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[9]. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập ổn định do đó Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền cho các bị cáo.
[10]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bát đĩa bằng sứ màu trắng, 04 quân vị hình tròn
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 19.600.000 đồng.
[11]. Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo, nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo K, S, N, T4 và T5, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo và xử lý vật chứng là có căn cứ và phù hợp các quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn T, Nguyễn Duy K, Lã Ngọc S, Ngô Sỹ N, Phạm Văn T4 và Phạm Văn T5 phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Tuấn T 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 10/04/2024 đến ngày 12/04/2024
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/04/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao
Xử phạt Nguyễn Duy K 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt Lã Ngọc S 07 (Bẩy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (Mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm
Xử phạt Ngô Sỹ N 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm
Xử phạt Phạm Văn T4 07 (Bẩy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 (Mười bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm
Xử phạt Phạm Văn T5 08 (T6) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 (Mười sáu) tháng tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm
Giao bị cáo Nguyễn Duy K, Lã Ngọc S, Ngô Sỹ N, Phạm Văn T4 và Phạm Văn T5 về UBND xã V, huyện T, TP . giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền cho các bị cáo
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 19.600.000 đồng (Mười chín triệu sáu trăm nghìn đồng) theo Ủy nhiệm chi số 96 ngày 08/07/2024
Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bát đĩa màu trắng bằng sứ, 04 quân vị hình tròn đều đã qua sử dụng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT- Công an huyện T và C thi hảnh án dân sự huyện T ngày 09/07/2024.
Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Tuấn T, Nguyễn Duy K, Lã Ngọc S, Ngô Sỹ N, Phạm Văn T4 và Phạm Văn T5, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Tự Hiếu |
Bản án số 150/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự về tội "đánh bạc"
- Số bản án: 150/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Đánh bạc"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn T, Nguyễn Duy K, Lã Ngọc S, Ngô Sỹ N, Phạm Văn T4 và Phạm Văn T5 phạm tội “Đánh bạc”.
