|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 150/2024/HS-ST Ngày: 21-11-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Quyết
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Dũng
- Bà Đỗ Thị A
Thư ký phiên tòa: Bà Trà Thị Thúy Diễm – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:
Bà Trần Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 134/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Uông Ngọc N; sinh ngày: 01/01/1990 tại Thanh H; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Uông Ngọc L và bà: Nguyễn Thị L1; tiền sự: Không; tiền án: Không. Nhân thân: Ngày 13/12/2012, bị U ra Quyết định số 9326/QĐ-UBND áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh, do có hành vi sử dụng chất ma túy; chấp hành xong ngày 30/10/2014. Ngày 27/7/2018 “Trộm cắp tài sản”, bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù giam, theo Bản án số 02/2019/HSST ngày 07/01/2019. Bị cáo chấp hành án đến ngày 27/01/2020 hết án tha; Ngày 25/4/2019 đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm và số tiền truy thu. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/7/2024 tại Nhà tạm giữ Công an Q.
(Bị cáo có mặt).
- Bị hại: Ông Nguyễn Quốc T, sinh năm 1967 (vắng mặt)
Địa chỉ: B Cao ốc A, Phường G, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Quốc V, sinh năm 1973 (vắng mặt)
- Ông Trần Ngọc P, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: B Cao ốc A, Phường G, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: B Tổ G, khu phố B, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 17 giờ 30 ngày 04/7/2024, ông Nguyễn Quốc T để xe máy biển số 52U5- 3318 màu đỏ đen tại trước Cao ốc A, N, Phường G, Quận A nhưng không ai trông coi, không khóa cổ xe và đi lên nhà số B Cao ốc A, Nguyễn K. Đến khoảng 20 giờ 05 phút ngày 04/7/2024, Bị cáo Uông Ngọc N đi bộ đến trước Cao ốc A, N, Phường G, Quận A nhìn thấy xe máy biển số 52U5- 3318 không ai trông coi nên bị cáo N nảy sinh ý định chiếm đoạt. Bị cáo N đi đến xe máy tháo dây điện ổ khóa xe để mở khóa và nổ máy xe chạy đi. Đến ngày 08/7/2024 bị cáo N chạy xe máy đến Thành phố L, tỉnh Đồng Nai, gặp Trần Ngọc P, nói xe do bị cáo N mua có giấy tờ nhưng đã thế chấp tờ xe ở Thành phố Hồ Chí Minh do kẹt tiền cần bán. P đồng ý mua xe với giá 1.000.000 đồng nhưng chỉ đưa trước số tiền 700.000 đồng, còn lại 300.000 đồng khi nào bị cáo N đưa giấy tờ xe thì P trả hết. Bị cáo N sử dụng số tiền bán xe có được, tiêu xài cá nhân hết.
Khoảng 23 giờ ngày 04/7/2024, ông Nguyễn Quốc T phát hiện xe máy biển số 52U5- 3318 bị mất; Ông T liên hệ bảo vệ Chung cư kiểm tra Camera an ninh phát hiện hình ảnh đối tượng nam mặc áo dài tay màu xanh đen, quần jeans màu xanh đã lấy xe máy biển số 52U5-3318; Do không có thiết bị truy xuất dữ liệu và dữ liệu chỉ lưu được 48 giờ, ông T đã dùng điện thoại quay, chụp toàn bộ diễn biến trên màn hình camera an ninh. Do bận việc, đến sáng ngày 09/7/2024 ông T đến Công an P1 trình báo sự việc.
Cơ quan điều tra tiến hành trưng cầu định giá tài sản bị chiếm đoạt, theo Kết luận định giá tài sản số: 1461/KL-HĐĐGTS ngày 22/7/2024 của Hội đồng Định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận A kết luận tại thời điểm ngày 04/7/2024: “01 chiếc xe gắn máy hiệu SEAWAY, màu đỏ đen, lắp ráp tại Trung Quốc, dung tích xilanh 107cc, đăng ký lần đầu ngày 23/01/2006. Biển số: 52U5-3318, số khung RNDDCHTND, số máy: VDGZS152FMHN50001546, có trị giá 2.300.000 đồng”.
Qua điều tra truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã khởi tố và ra lệnh bắt bị cáo để tạm giam đối với bị cáo Uông Ngọc N. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, bị cáo Uông Ngọc N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bị cáo N không nói cho anh P biết xe do bị cáo N phạm tội mà có. Lời khai nhận tội của bị cáo N phù hợp với biên bản kiểm tra camera tại hiện trường vụ án, lời khai người bị hại, người liên quan và các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được.
Trần Ngọc P khai, có quen biết bị cáo N vào năm 2021 do bị cáo N có thời gian học nghề tại tiệm sửa xe của anh P tại Khu công nghiệp S - Thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Ngày 08/7/2024, N có đến gặp nói xe là của bị cáo N và bán xe cho P với giá 1.000.000 đồng như đã nêu trên. P không biết xe do bị cáo N phạm tội mà có, P đã tự nguyên giao nộp lại chiếc xe cho Cơ quan điều tra.
Vật chứng, tài sản thu giữ:
- - 01 (một) xe máy biển 52U5- 3318; số máy VDGZS152FMHN50001546; số khung: RNDDCHTND5150154. số khung, số máy không thay đổi. Xác minh xe do ông Nguyễn Quốc V đứng tên chủ sở hữu. Ông V mua xe vào tháng 01/2006 với giá 10.000.000 đồng, đến năm 2024 ông V giao xe anh ruột là ông Nguyễn Quốc T sử dụng chở hàng. Ngày 26/7/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại cho ông V.
- - 01 (một) chiếc áo thun dài tay màu xanh đen; một chiếc quần Jeans màu xám - là trang phục bị cáo N mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
- - 01 (một) Chiếc ĐTDĐ hiệu S Galaxy J2 Prime màu vàng Gold có số IMEI 1: 358206084449876/01; số IMEI 2: 358207084449874/01 - là tài sản của bị cáo Uông Ngọc N, không liên quan đến phạm tội.
- - 01 (một) Chiếc ĐTDĐ hiệu N1 màu xám đen có số IMEI 1 356944110365524; số IMEI 2: 356944110865523: bị cáo trình bày đây là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan vụ án.
Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.
Về dân sự: Ông Nguyễn Quốc T, Trần Ngọc P không yêu cầu bị cáo N bồi thường gì về dân sự.
Tại bản Cáo trạng số 128/CT-VKSQ10 ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:
Bị cáo Uông Ngọc N về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa hôm nay:
- - Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đối với xã hội, bị hại và nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội gây thiệt hại không lớn) và nhân thân của bị cáo; đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo: Uông Ngọc N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, miễn phạt tiền bổ sung và đề nghị xử lý vật chứng.
- - Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến gì tranh luận.
- - Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[3] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:
Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Uông Ngọc N đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của bị hại trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi lấy trộm chiếc xe gắn máy hiệu SEAWAY, màu đỏ đen, biển số 52U5-3318 có giá trị 2.300.000 đồng. Do vậy, bị cáo Uông Ngọc N bị truy tố và xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác mà còn ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội. Ngoài ra bị cáo có quá trình nhân thân không tốt. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo lần này cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo gây ra, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có quá trình nhân thân không tốt. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) phạt bổ sung bị cáo một số tiền nộp ngân sách nhà nước.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi giao trả cho bị hại nên thiệt hại không lớn. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s, h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Quốc T, Trần Ngọc P không yêu cầu bị cáo N bồi thường gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không có gì để giải quyết.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) chiếc áo thun dài tay màu xanh đen; một chiếc quần Jeans màu xám - là trang phục bị cáo N mặc khi thực hiện hành vi phạm tội. Xét thấy đây là tài sản không liên quan đến việc phạm tội nhưng không có giá trị, bị cáo không đồng ý nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 Prime màu vàng Gold có số IMEI 1: 358206084449876/01; số IMEI 2: 358207084449874/01 và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu xám đen có số IMEI 1 356944110365524; số IMEI 2: 356944110865523 thu giữ của bị cáo Uông Ngọc N. Xét thấy đây là tài sản không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo nhưng cần kê biên để bảo đảm cho việc thi hành án.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào khoản 1, 5 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s, h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- - Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- - Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử phạt bị cáo Uông Ngọc N 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 18/7/2024.
Phạt bổ sung bị cáo Uông Ngọc N 5.000.000 (năm triệu) đồng nộp ngân sách nhà nước.
Tịch thu và tiêu hủy đối với 01 (một) chiếc áo thun dài tay màu xanh đen; một chiếc quần Jeans màu xám.
Kê biên để bảo đảm cho việc thi hành án đối với 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J2 Prime màu vàng Gold có số IMEI 1: 358206084449876/01; số IMEI 2: 358207084449874/01 và 01 chiếc điện thoại di động hiệu Nokia màu xám đen có số IMEI 1 356944110365524; số IMEI 2: 356944110865523 của bị cáo Uông Ngọc N.
(Tình trạng vật chứng: Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/9/2024 giữa Công an Q và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10).
Buộc bị cáo Uông Ngọc N chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình.
Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo có mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì tính từ ngày được giao hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Văn Quyết |
Bản án số 150/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 150/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Uông Ngọc Năm phạm tội Trộm cắp tài sản
