Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 150/2023/HNGĐ-ST

Ngày 21/8/2023

Về việc: “Ly hôn, tranh chấp

về nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Vân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Cao Minh Lễ.

2. Bà Diệp Thị Thu Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lam Em, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 113/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2023 về việc “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 117/2023/QĐST ngày 01 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Phương D, sinh năm 2000

Địa chỉ: Số B, ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1994

Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Phương D trình bày như sau: Chị và anh Nguyễn Văn L quen biết với nhau, tự nguyện tiến tới kết hôn vào năm 2021, có tổ chức đám cưới, hôn nhân lần thứ nhất của cả hai. Anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh An Giang ngày 13/5/2021. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 10 năm 2022 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân tới nay. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do sau khi sinh em bé, hai vợ chồng bắt đầu cự cãi nhau về tiền bạc, cuộc sống vợ chồng bắt đầu không còn tiếng nói chung, không hòa hợp để sống với nhau được nữa. Thời gian ly thân, anh L có về thăm mẹ con chị được 1, 2 lần, tới nay không còn liên hệ gì. Nay nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh L; Về con chung: Vợ chồng chị có 01 con chung tên Nguyễn Gia H, sinh ngày 18/7/2021, hiện nay đang sống với chị. Nếu được ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng nuôi con chung và không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Do hiện nay con còn nhỏ và ở xa, đi lại khó khăn nên chị có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa khi vụ án được đưa ra xét xử.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã hai lần triệu tập hợp lệ anh L đến để tiến hành hòa giải và triệu tập tham gia phiên toà nhưng anh L vắng mặt không có lý do và không cung cấp lời khai.

* Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật theo Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên đã vi phạm Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại các Điều 8, 9, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xem xét, quyết định. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị D được ly hôn với anh L. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 18/7/2021 cho chị D được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Lưu k phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung: Không xem xét. Chị D yêu cầu ly hôn nên phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (viết tắt HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Chị Nguyễn Thị Phương D (là nguyên đơn trong vụ án) có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị D theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh Nguyễn Văn L (là bị đơn trong vụ án) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên toà xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh L.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Chị D và anh L kết hôn với nhau vào năm 2021, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh An Giang ngày 13/5/2021 nên được pháp luật công nhận là vợ chồng hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Nay vợ chồng chị D và anh L phát sinh mâu thuẫn, chị D xin ly hôn nên Toà án thụ lý, giải quyết là phù hợp với các quy định của pháp luật.

Trong quá trình hôn nhân, chị D cho rằng do vợ chồng không có tiếng nói chung, tính tình không hòa hợp, mâu thuẫn về tiền bạc nên vợ chồng thường xuyên cự cãi với nhau. Thời gian qua hai vợ chồng cũng cố gắng hàn gắn hạnh phúc nhưng không có kết quả. Tòa án đã triệu tập anh L để tham gia phiên hòa giải nhưng anh L vắng mặt và không trình bày ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị D thể hiện anh Lưu k muốn hàn gắn. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ tháng 10/2022 cho đến nay. Xét thấy, hôn nhân giữa chị D và anh L thực tế đã không còn tồn tại, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu lý hôn của chị D đối với anh L.

[2.2] Về con chung:

Chị D xác định trong thời gian chung sống, vợ chồng anh chị có 01 con chung tên Nguyễn Gia H, sinh ngày 18/7/2021. Sau ly hôn, chị D yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Cháu H hiện nay đang sống với chị D và hiện nay cháu H dưới 36 tháng tuổi. Theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của cháu H, để đảm bảo ổn định cuộc sống cho cháu H, giúp cháu phát triển tốt về thể chất, tinh thần, HĐXX giao cháu H cho chị D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con. Tuy nhiên, chị D không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở. Chị D phải tạo điều kiện cho anh L được thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

[2.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị D không tranh chấp tài sản chung và nợ chung nên HĐXX không xem xét. Nếu sau này giữa chị D và anh L có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ được Tòa án thụ lý, giải quyết bằng vụ án khác.

[3] Chị D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Các Điều 8, 9, 56, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Phương D.

* Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Phương D được ly hôn với anh Nguyễn Văn L.

(Giấy chứng nhận kết hôn số 38/2021 do Ủy ban nhân dân phường, huyện T, tỉnh An Giang cấp ngày 13/5/2021 cho chị Nguyễn Thị Phương DNguyễn Văn Lưu k1 còn giá trị pháp lý).

* Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia H, sinh ngày 18/7/2021 cho chị D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Anh Lưu k1 phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị D không có yêu cầu.

Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

* Về tài sản chung và nợ chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét. Nếu sau này giữa chị D và anh L có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ được Tòa án thụ lý, giải quyết bằng vụ án khác.

* Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Phương D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0011597 ngày 21 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Chị D và anh L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND h. Thoại Sơn;
  • - Chi cục THADS h. Thoại Sơn;
  • - UBND xã Vĩnh Phú;
  • - Các đương sự (Để thi hành);
  • - Lưu VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Mai Thị Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 150/2023/HNGĐ-ST ngày 21/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 150/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger