|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 150/2024/HS-ST Ngày 21-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Long Bình.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Chinh Chiến và bà Lò Thị Minh.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Lệ Giang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thuỷ, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 155/2024/TLST-HS ngày 07/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 147/2024/QĐXXST-HS ngày 07/6/2024 đối với:
Bị cáo: Lý Thương T, sinh ngày: 01/9/2004 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản P, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Lý Văn H và bà Bàn Thị M; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/4/2024 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ ngày 08/4/2024 tổ công tác Công an huyện M làm nhiệm vụ tại tiểu khu F, thị trấn M tiến hành kiểm tra đối với Lý Thương T đang đi bộ trên đường dân sinh. Qua kiểm tra phát hiện Lý Thương T đang cất giấu trong túi áo 01 bao thuốc lá màu vàng bên trong đựng 01 gói nilon màu trắng đựng 05 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY nghi là Methamphetamine. T khai nhận đó là M1 của T mục đích để sử dụng. Căn cứ hành vi vi phạm của Lý Thương T, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng và dẫn giải Lý Thương T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M để điều tra, làm rõ.
Ngày 08/4/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã tiến hành xác định khối lượng 05 viên nén màu hồng thu giữ của Lý Thương T được 0,52 gam, lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu T1
Tại Kết luận giám định số 889 ngày 12/4/2024 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu T gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,52 gam; Khối lượng ma túy thu giữ là 0,52 gam; loại Methamphetamine.”
Quá trình điều tra Lý Thương T khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy. Khoảng 13 giờ ngày 08/4/2024 T đi xe ôm của người đàn ông không quen biết đến thị trấn M tìm việc làm thuê. Khi đến đến chợ M2, T xuống xe đi đến tiểu khu B, thị trấn M tìm mua ma túy mang về sử dụng. Khi đi trên đường D, thị trấn M gặp và hỏi mua được của một người đàn ông không quen biết 05 viên hồng phiến đựng trong mảnh giấy màu trắng và vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long với giá 250.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T cất giấu gói ma túy trong túi áo khoác bên phải rồi đi tìm nơi sử dụng, trên đường đi đến tiểu khu F, thị trấn M thì gặp tổ công tác Công an huyện M kiểm tra, phát hiện, thu giữ.
Tại phiên tòa bị cáo Lý Thương T trình bày ý kiến, giữ nguyên lời khai của mình, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Cáo trạng số 100/CT-VKS ngày 05/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị can Lý Thương T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lý Thương T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Lý T2 Thân từ 21 tháng đến 24 tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ Lý Thương T, bắt ngày 08/4/2024 (01 mảng giấy màu trắng, 01 bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu Thăng Long và phong bì niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối của Lý Thương T.
- Bị cáo phải chịu phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án. Bị cáo nhất trí với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Lý Thương T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra, số ma túy bị tổ công tác Công an huyện M thu giữ của bị cáo vào ngày 08/4/2024 có nguồn gốc mua được của một người đàn ông với giá 250.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an huyện M lập vào hồi 18 giờ 10 phút ngày 08/4/2024; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; bản kết luận giám định số 889 ngày 12/4/2024 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu T gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,52 gam; Khối lượng ma túy thu giữ là 0,52 gam; loại Methamphetamine." Methamphetamine nằm trong danh mục II, mục IIC, số thứ tự 247 tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ của cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Lý Thương T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 08/4/2024 bị cáo Lý Thương T đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,52 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo Lý Thương T không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là trong quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét áp dụng đối với bị cáo.
Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện hút chất ma túy. Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, sống chung với gia đình, không có tài sản riêng có giá trị, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
- Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ Lý Thương T, bắt ngày 08/4/2024 (01 mảnh giấy màu trắng, 01 bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu Thăng Long và phong bì niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối của Lý Thương T, xét thấy là vật không có giá trị sử dụng. Áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
- Về các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Lý Thương T tại tiểu khu A, thị trấn M, huyện M. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng phù hợp với khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Thời hạn tạm giam của bị cáo dưới 45 ngày nên Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam đối với bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Tuyên bố bị cáo Lý Thương T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lý Thương T 24 (Hai mươi tư) tháng tù.
Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 08/4/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Về vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ vật chứng vụ Lý Thương T, bắt ngày 08/4/2024 (01 mảng giấy màu trắng, 01 bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu Thăng Long và phong bì niêm phong ban đầu); 01 chiếc phong bì thư còn nguyên niêm phong một mặt có ghi dòng chữ test thử ma túy đối của Lý Thương T.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về án phí: Buộc bị cáo Lý Thương T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 21/6/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lương Long Bình |
Bản án số 150/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 150/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lý Thương T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy
