|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 150/2024/HNGĐ-ST
Ngày 21-6-2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Phích
- Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Phạm Mạnh Hùng
- Ông Nguyễn Thanh Hải
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 43/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 77/2024/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M; nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
- - Bị đơn: Anh Phạm Văn T; nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam: Thôn P, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; hiện trú tại: Nhật Bản; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị M trình bày:
Chị Nguyễn Thị M và anh Phạm Văn T xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng vào ngày 31 tháng 5 năm 2013. Quá trình chung sống của vợ chồng hạnh phúc đến năm 2017 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhândo năm 2018, anh T đi lao động tại Nhật Bản, chị M cùng con vẫn sinh sống ở quê (Đ, K). Từ thời điểm anh T đi lao động ở nước ngoài, mỗi khi liên lạc với nhau thì vợ chồng xảy ra cãi vã do bất đồng với nhau về quan điểm sống, kinh tế, cách dạy con. Không khí trong gia đình trở nên rất căng thẳng và nặng nề, ảnh hưởng rất nhiều đến việc học tập của con chung. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không đạt kết quả, N nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị M đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Văn T để nhanh chóng ổn định cuộc sống.
Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Phạm Nguyễn Nhật T1, sinh ngày 21/12/2013, hiện đang ở với chị M, sức khỏe bình thường. Ly hôn, chị M đề nghị Tòa án giao con chung cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con, anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung.
Chị M không cung cấp được cho Tòa án địa chỉ tại Nhật Bản của anh T. Chị được biết hiện nay anh T vẫn liên lạc bằng điện thoại với người thân trong gia đình anh là bà Hoàng Thị S – mẹ đẻ anh T và chị Phạm Thị H - em gái ruột của anh T. Hiện nay, bố anh T đã chết.
Đối với bị đơn là anh Phạm Văn T:
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án cho bà Hoàng Thị S – là mẹ đẻ của anh Phạm Văn T. Tòa án đã hai lần thông báo cho bà Hoàng Thị S cung cấp địa chỉ cụ thể của anh Phạm Văn T ở Nhật Bản và yêu cầu bà Hoàng Thị S cho biết kết quả về việc bà đã thông báo cho anh Phạm Văn T để gửi lời khai đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị M cho Tòa án. Bà Hoàng Thị S trình bày anh Phạm Văn T vẫn liên lạc qua điện thoại và qua mạng internet với bà nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể tại Nhật Bản của anh Phạm Văn T ở đâu do anh T không cung cấp. Bà đã thông báo cho anh Phạm Văn T về yêu cầu của Tòa án, anh T đã biết việc chị M xin ly hôn với anh T, tuy nhiên anh T không thực hiện việc cung cấp địa chỉ và gửi lời khai về cho Tòa án.
Quan điểm của bà Hoàng Thị S như sau:
Chị M và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận D, thành phố Hải Phòng vào năm 2016. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận. Đến năm 2018, anh T đi lao động ở nước ngoài, mỗi khi liên lạc với nhau thì vợ chồng xảy ra cãi vã do bất đồng với nhau về quan điểm sống, kinh tế, cách dạy con. Không khí trong gia đình trở nên rất căng thẳng và nặng nề. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không đạt kết quả. Nay chị M xin ly hôn với anh T, yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Chị Nguyễn Thị M và anh Phạm Văn T có một con chung là Phạm Nguyễn Nhật T1, sinh ngày 21/12/2013, hiện đang ở với chị M, sức khỏe bình thường. Về việc giao con chung, cấp dưỡng nuôi con và về tài sản chung: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa, nguyên đơn có đề nghị xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Phạm Văn T. Về con chung: Giao con chung là cháu Phạm Nguyễn Nhật T1, sinh ngày 21/12/2013 cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung và về tài sản chung, không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết. Ngoài ra đề nghị giải quyết về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời khai của đương sự tại phiên tòa, xét thấy:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị M có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và con chung với anh Phạm Văn T nên quan hệ pháp luật là ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Bị đơn là anh Phạm Văn T có đăng ký hộ khẩu thường trú và có nơi cư trú cuối cùng ở thành phố Hải Phòng nhưng hiện đang sinh sống ở Nhật Bản, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị M hiện nay đang sinh sống tại thành phố Hải Phòng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Chị Nguyễn Thị M có đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Phạm Văn T vắng mặt tại địa phương, sinh sống ở nước ngoài nhưng không cung cấp được địa chỉ cho Tòa án và nguyên đơn biết. Như vậy, trường hợp này bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Tòa án đã thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng, anh Phạm Văn T đã biết các văn bản tố tụng của Tòa án được gửi cho anh thông qua bà Hoàng Thị S nhưng anh Phạm Văn T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M và anh Phạm Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng vào ngày 31 tháng 5 năm 2013. Theo Điều 9, Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào lời khai của chị M, mẹ đẻ của anh T (bà Hoàng Thị S) và xác minh tại địa phương thể hiện quá trình chung sống vợ chồng chị M, anh T phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không phù hợp, không có tiếng nói chung trong việc phát triển kinh tế, vợ chồng đã ly thân một thời gian dài. Anh T đã được gia đình thông báo về việc chị M xin ly hôn với anh nhưng không có ý kiến gửi về cho Tòa án cũng như không đưa ra biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Như vậy nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng mỗi người ở một nơi, đời sống chung không thể kéo dài, chị M không còn tình cảm vợ chồng với anh T. Do đó, căn cứ vào Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị M đối với anh Phạm Văn T.
[4] Về con chung: Chị M và anh T có một con chung là cháu Phạm Nguyễn Nhật T1, sinh ngày 21/12/2013, hiện đang ở với chị M. Ly hôn, chị Mến yêu c giao con chung cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy anh Thiện không ở Việt Nam, không có địa chỉ nơi ở cụ thể nên không thể trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Chị M hiện nay vẫn đảm bảo việc chăm sóc và nuôi dạy con chung. Mặt khác, cháu Phạm Nguyễn Nhật T1 có nguyện vọng muốn được ở với chị M trong trường hợp bố mẹ cháu ly hôn. Do đó, việc chị Mến yêu c giao con chung cho chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình và nguyện vọng của con chung nên cần được chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con, chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên cần ghi nhận việc chị M tạm thời không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
[5] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị M không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
[7] Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị M và anh Phạm Văn T được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị M.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Phạm Văn T.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Phạm Nguyễn Nhật T1, sinh ngày 21/12/2013 cho chị Nguyễn Thị M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Ghi nhận việc chị Nguyễn Thị M tạm thời không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị M không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000217 ngày 06 tháng 02 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị M đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị M (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Anh Phạm Văn T (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Phích |
Bản án số 150/2024/HNGĐ-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 150/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
