TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 150/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 06-11-2025
“V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Triệu Quốc H.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn L
Ông Huỳnh Văn H1
- Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Thị Hương T, Thư ký Toà án nhân dân khu vực 4 – Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân nhân dân khu vực 4 – Vĩnh Long không tham gia phiên toà.
Ngày 06 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 4 – Vĩnh Long xét xử công khai vụ án thụ lý số: 202/2025/TLST – HNGĐ, ngày 10 tháng 10 năm 2025, về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Q định đưa vụ án ra xét xử số: 176/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 27 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Đinh Thị Trúc L1, sinh năm:1988 (vắng, có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn: anh Nguyễn Văn Bé S, sinh năm: 1984 (vắng, có đơn xin vắng mặt).
Cùng địa chỉ: ấp Q, xã H, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đinh Thị Trúc L1 trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị L1 và anh S hình thành do quen biết, được sự chấp thuận của cha mẹ hai bên tiến hành tổ chức lễ cưới năm 2006 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H ngày 09/02/2006. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2019 phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống nên tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, thường hay cự cải cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 10 năm 2019 cho đến nay.
Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt, đời sống chung không thể kéo dài nên chị L1 yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn Bé S.
- Về con chung: vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Trọng K, sinh ngày 04/07/2008 đang sống chung anh S. Khi ly hôn chị L1 đồng ý giao con chung cho anh S tiếp tục nuôi dưỡng và chị L1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Chị L1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Văn Bé S trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh S và chị L1 hình thành do quen biết, được sự chấp thuận của cha mẹ hai bên tiến hành tổ chức lễ cưới năm 2006 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H ngày 09/02/2006. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh S nghi ngờ chị L1 không chung thủy, chị L1 bỏ nhà đi nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Nay anh Nguyễn Văn Bé S đồng ý ly hôn với chị Đinh Thị Trúc L1.
- Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Trọng K, sinh ngày 04/07/2008. Khi ly hôn anh S yêu cầu nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị L1 cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, H2 đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025, Điều 3, khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVH15, ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4.
Nguyên đơn chị Đinh Thị Trúc L1 và bị đơn anh Nguyễn Văn Bé S có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 227, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về hôn nhân: Mối quan hệ hôn nhân giữa chị Đinh Thị Trúc L1 và anh Nguyễn Văn Bé S là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ, anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống, không quan tâm đến nhau nên tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc dẫn đến ly thân từ tháng 10 năm 2019 cho đến nay.
Hội đồng xét xử xét thấy chị L1 và anh S đã sống chung một thời gian dài không hạnh phúc, cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn không cải thiện được, vợ chồng đã có thời gian sống ly thân không quan tâm đến nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh S đồng ý ly hôn với chị L1 nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L1 là phù hợp với Điều 56 luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị L1 và anh S có một con chung tên Nguyễn Trọng K, sinh ngày 04/7/2008. Khi ly hôn, anh S yêu cầu nuôi dưỡng cháu K, chị L1 đồng ý giao con chung cho anh S nuôi dưỡng.
Hội đồng xét xử xét thấy cháu K có ý kiến muốn được sống với anh S, hiện cháu đang sống chung anh S, cuộc sống của cháu đang ổn định, sức khỏe bình thường, điều kiện sống của anh S đảm bảo cho việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
Do vậy ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của chị L1 và anh S, giao con chung Nguyễn Trọng K, sinh ngày 04/07/2008 cho anh Nguyễn Văn Bé S nuôi dưỡng là phù hợp phù hợp theo Điều 81 luật hôn nhân và gia đình.
Anh Nguyễn Văn Bé S không yêu cầu chị Đinh Thị Trúc L1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Chị Đinh Thị Trúc L1 và anh Nguyễn Văn Bé S không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Đinh Thị Trúc L1 phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Anh Nguyễn Văn Bé S không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; Điều 9, khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 3, khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVH15, ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí tòa án.
1/ Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Trúc L1.
- - Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đinh Thị Trúc L1 được ly hôn với anh Nguyễn Văn Bé S.
- - Về con chung: Giao cháu Nguyễn Trọng K, sinh ngày 04/07/2008 cho anh Nguyễn Văn Bé S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Đinh Thị Trúc L1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- - Về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng: Chị Đinh Thị Trúc L1 và anh Nguyễn Văn Bé S không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
2/ Về án phí:
Buộc chị Đinh Thị Trúc L1 phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm về hôn nhân gia đình. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005148, ngày 10 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long, chị Đinh Thị Trúc L1 đã nộp đủ tiền án phí.
Anh Nguyễn Văn Bé S không phải nộp án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án, bản án được niêm yết hoặc được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Triệu Quốc Hiếu |
Bản án số 150/2025/HNGĐ-ST ngày 06/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 150/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn