Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY PHONG

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 150/2024/HS-ST

Ngày: 11/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Hải Âu
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Hưng Quang
  • 2. Ông: Phạm Văn Minh
  • - Thư ký phiên tòa: ông Hán Tấn Tiến - Thư ký Tòa án huyện Tuy Phong.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Ông Trương Vĩnh Vinh - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 135/2024/HSST, ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 154/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn C (Tên gọi khác: Mỗ) sinh ngày 15 tháng 4 năm 2001 tại tỉnh Bình Thuận. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông: Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1982 và bà Lê Thị H, sinh năm 1982; Anh, chị, em: 02 người; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án: 03 tiền án.

Tại bản án số 24/HSST ngày 23/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xử phạt Nguyễn C 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”

Tại bản án số 72/HSST ngày 6/5/2021 của Tòa án nhân dân TP. Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt Nguyễn C 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản".

Tại bản án số 107/HSST ngày 01/7/2021 của Tòa án TP . - T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt Nguyễn C 18 tháng tù. Tổng hợp hình phạt của 03 bản án là 03 năm 06 tháng tù. Chấp hành xong án phạt tù ngày 31/3/2024 (chưa được xóa án tích).

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  • Võ Văn T1, sinh năm 1966. Địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận (có mặt).
  • Phạm Thị B, sinh năm 1971. Địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị Minh S, sinh năm 1972. Địa chỉ: Thôn B, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận (có mặt).

- Người làm chứng:

  • Trương Văn H1, sinh năm 1991. Thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).
  • Đinh Văn S1, sinh năm 1972. Thôn B, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 12 tháng 7 năm 2024, Nguyễn C đi bộ đến các nhà xung quanh khu vực rẫy ở thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận với mục đích tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Khi đến rẫy thanh long của ông Võ Văn T1 thuộc thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận thì Nguyễn C nhìn thấy 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu NOVELFORCE mang biển kiểm soát 86H4 - 3049 để ở sân trước nhà có cắm sẵn chìa khóa trong ổ khóa, không có người trông coi nên C dùng tay mở cửa chốt cổng đi vào bên trong lấy trộm xe mô tô mang biển kiểm soát 86H4 - 3049 nổ máy xe chạy đi theo hướng đường liên xã P - C. Đến khoảng 17 giờ 40 phút cùng ngày C chạy xe mô tô trên đến nhà bà Nguyễn Thị Minh S ở thôn B, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận để bán với giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). Ngày 13 tháng 7 năm 2024, ông Võ Văn T1 đến trình báo vụ việc bị mất trộm tài sản cho Công an xã P. Sau khi tiếp nhận vụ việc, Công an xã P đã tiến hành rà soát các địa điểm thu mua phế liệu và phát hiện Nguyễn C đã bán chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 86H4 - 3049 cho bà Nguyễn Thị Minh S vào chiều ngày 12/7/2024 với giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Công an xã P đã tiến hành thu hồi chiếc xe mô tô mang biển kiểm soát 86H4-3049.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 87/KL-HĐĐG ngày 02/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận giá trị tài sản Nguyễn C đã trộm cắp là:

  • + 01 xe mô tô hiệu NOVELFORCE, biển kiểm soát 86H4 - 3049, có số máy: MH200000043 và số khung: HDHR5T000040, màu sơn xanh, dung tích 107, áo xe bị nứt bể, bửng và kính chiếu hậu không còn, đồng hồ công tơ mét không còn hoạt động, phuộc chống xóc và bô xe bị gỉ sét, sơn lốc máy bị bong tróc, giá trị sử dụng còn lại khoảng 25%.
  • + Qua tham khảo giá theo quy định tại Quyết định số 2353/QĐ-BTC ngày 31/10/2023 của Bộ T3 về việc ban hành Bảng giá tính lệ phí trước bạ đối với xe ô tô, xe máy, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T thống nhất định giá đối với chiếc xe mô tô nêu trên như sau:

15.000.000 đồng/chiếc x 25% = 3.750.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản định giá: 3.750.000 đồng (Ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).

  • · Tại bản Cáo trạng số: 132/CT/VKSTP-HS ngày 29/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong truy tố bị cáo Nguyễn C về tội “Trộm cắp tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • · Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn C theo Cáo trạng số: 132/CT/VKSTP-HS ngày 29/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Chung M án từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày chấp hành án; Về trách nhiệm dân sự: đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 1 Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự 2015; Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Minh S, cụ thể: bị cáo Nguyễn C phải có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Minh S số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).

Bị cáo Nguyễn C đã thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo thực hiện, không oan.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong.

Bị cáo Nguyễn C nói lời sau cùng: bị cáo thấy hành vi của mình là sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, người bị hại bà Phạm Thị B và người làm chứng Trương Văn H1 vắng mặt. Xét thấy, trong quá trình điều tra thì những người nêu trên đã có lời khai rõ ràng về các tình tiết của vụ án và việc vắng mặt của những người nêu trên cũng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 để xét xử vắng mặt đối với những người nêu trên.

[3] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn C khai nhận: vào khoảng 14 giờ ngày 12 tháng 7 năm 2024 khi bị cáo đi bộ đến rẫy thanh long của ông Võ Văn T1 thuộc thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận bị cáo nhìn thấy 01 chiếc xe mô tô biển số: 86H4-3049 để ở sân trước nhà có cắm sẵn chìa khóa trong ổ khóa không có người trông coi nên bị cáo dùng tay mở cửa chốt cổng đi vào bên trong lấy trộm xe mô tô biển số 86H4 - 3049 nổ máy xe chạy đi theo hướng đường liên xã P - C. Đến khoảng 17 giờ 40 phút cùng ngày bị cáo chạy xe mô tô trên đến nhà bà Nguyễn Thị Minh S ở thôn B, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận bán với giá 500.000đồng (năm trăm nghìn đồng) để lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, Cáo trạng số: 132/CT/VKSTP-HS ngày 29/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong truy tố bị cáo Nguyễn C về tội danh, điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng người và đúng quy định của pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • -Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn C đã có 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, lại tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc trường hợp “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • -Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong qúa trình điều tra vụ án cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Tại phiên tòa, bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần được áp dụng khi lượng hình phạt đối với bị cáo.

[5] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo là công dân có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận biết được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vì bản tính tham lam, muốn có tiền tiêu xài một cách nhanh chóng, lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ tài sản, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại. Qua nhiều lần xử phạt, bị cáo không tu dưỡng bản thân để trở thành công dân tốt mà lại tiếp tục chiếm đoạt tài sản của người khác nhằm mục đích tư lợi cá nhân, thể hiện sự xem thường pháp luật gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, tạo tâm lý mất an toàn trong nhân dân. Điều đó chứng tỏ bị cáo là đối tượng nguy hiểm cho xã hội.

Với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

[6] Về tang vật chứng: Sau khi định giá tài sản, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã trả lại 01 xe mô tô hiệu NOVELFORCE, biển kiểm soát 86H4 – 3049 cho người bị hại theo quy định pháp luật.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Minh S yêu cầu bị cáo Nguyễn Chung hoàn T2 số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) do mua nhầm tài sản. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý hoàn trả số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị Minh S. Xét việc thỏa thuận giữa bị cáo và bà Nguyễn Thị Minh S là tự nguyện, không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận.

[8] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong:

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo đã gây ra nên được chấp nhận.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

  1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Xử phạt bị cáo Nguyễn C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày chấp hành án.
  3. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Khoản 1 Điều 584, Điều 589 Bộ luật dân sự 2015; Điều 246 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

    Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Minh S, cụ thể: bị cáo Nguyễn C phải có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Minh S số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền trên thì háng tháng phải chịu khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian còn phải thi hành án.

  4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.

    Buộc bị cáo Nguyễn C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

    Bị cáo Nguyễn C, bị hại Võ Văn T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người bị hại Phạm Thị B vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Minh S có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Tuy Phong;
  • - Công an huyện Tuy Phong;
  • - Chi cục THADS huyện Tuy Phong;
  • - UBND địa phương nơi bị cáo cư trú.
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Hải Âu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 150/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 150/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger