Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 150/2024/HS-ST

Ngày 29 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Vũ Ngọc Côn;
  2. Ông Tạ Văn Doanh.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ca - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Thành Đạt, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 138/2024/HSST ngày 13/11/2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2024/HSST- QĐ ngày 18/11/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn L, sinh năm 2001, Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 9/12; Con ông: Nguyễn Văn P và bà Dương Thị T: Vợ: Sầm Thị Hiền Con: có 01 con, sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú, hiện tại ngoại “có mặt”.

* Bị hại: Anh Lăng Văn S, sinh năm 1996 “vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Hoàng Văn T1, sinh năm 1996 “vắng mặt”. Địa chỉ: Thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  2. Anh Ngô Hoàng A, sinh năm 2000 “có mặt”.
  3. Anh Nguyễn Văn P1, sinh năm 1992 “vắng mặt”.
  4. Anh Vi Văn T2, sinh năm 1986 “vắng mặt”. Địa chỉ: Thôn B, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
  5. Anh Hứa Văn C, sinh năm 1998 “vắng mặt”. Địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

* Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1984 “vắng mặt”.

Địa chỉ: Thôn B, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 ngày 18/8/2024 Nguyễn Văn L, sinh năm 2001, trú tại thôn B, xã K, huyện L và anh Ngô Hoàng A, sinh năm 2000, trú tại: thôn B, xã K, huyện L đến nhà anh Nguyễn Văn P1, sinh năm 1992, trú tại thôn B, xã K, huyện L chơi. Khi đến nhà anh P1 thì L ăn cơm uống rượu tại nhà anh P1, còn anh Hoàng A sang nhà anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1996, ở đối diện nhà anh P1 uống rượu. Tại nhà anh H, cùng ăn cơm, uống rượu còn có anh Lăng Văn S, sinh năm 1996 và anh Hoàng Văn T1, sinh năm 1996, đều trú tại thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày thì giữa anh Hoàng A và anh S, anh T1 có xảy ra to tiếng, cãi nhau từ trong nhà anh H ra ngoài đường. Lúc này, Hoàng A gọi điện cho L ra can ngăn. Khi L ra can ngăn thì anh T1 nói “L mày thích như thế nào” L nói “Thích như nào cũng được”, sau đó giữa anh T1 và L có lời qua tiếng lại, xô đẩy nhau. Do bực tức, L chạy vào nhà của anh P1 lấy 01 con dao có cán bằng gỗ màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại, có tổng chiều dài 37cm, bản dao rộng 9,5cm ở trong bếp ra; còn anh S, anh T1 chạy vào quán bi-a của anh Hứa Văn C, sinh năm 1998 ở cạnh nhà anh H, mỗi người lấy 01 cây gậy bi-a cầm ra đứng ở cửa quán nhà anh C. Lúc này L cầm dao từ nhà anh P1 chạy ra chỗ anh S và vung dao chém về phía anh S, còn anh S dùng gậy bi- a vụt về phía L. Quá trình L dùng dao chém về phía anh S đã trúng một nhát vào lưng của anh S, còn anh S không vụt trúng L nhát nào. Sau đó L cầm dao bỏ chạy về nhà anh P1, anh S đuổi theo dùng gậy bi-a vụt một nhát trúng vào vùng mặt bên phải của L. L quay người lại chém 01 nhát vào vùng mặt bên phải của S rồi L vất con dao tại bãi đất trống cạnh nhà anh P1 sau đó điều khiển xe đi về nhà. Anh S bị thương được người dân đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B. Cùng ngày 18/8/2024 Công an xã K có báo cáo sự việc gửi Công an huyện L.

Ngày 18/8/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra vụ án tại thôn B, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Quá tình khám nghiệm hiện trường thu giữ mẫu máu; 01 mảnh gỗ kích thước (0,255x0,025)m, có một mặt được sơn màu đỏ, đen; 01 con dao có cán bằng gỗ màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại, có tổng chiều dài 37cm, bản dao rộng 9,5cm, được niêm phong theo theo quy định.

Ngày 18/8/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành rà soát xung quanh hiện trường, thu giữ 01 đoạn video tại camera an ninh của gia đình anh Hứa Văn C, thời gian từ 19 giờ 40 phút đến 20 giờ 00 phút ngày 17/8/2024, được sao lưu đĩa DVD; 01 đoạn video tại camera an ninh của gia đình anh Nguyễn Văn P1, thời gian từ 19 giờ 05 phút 40 giây đến 20 giờ 06 phút ngày 17/8/2024, được sao lưu đĩa DVD. Cùng ngày chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1995, trú tại thôn N, xã K, huyện L giao nộp 02 đoạn gậy gỗ, gồm: 01 đoạn gậy gỗ có hình trụ màu đen, có hoa văn, một đầu vát, tổng chiều dài 58cm rộng 2,5cm, đường kính 3,5cm; 01 đoạn gậy hỗ màu nâu đen, có tổng chiều dài 88,5cm, rộng 2,5cm, vát một đầu phía dưới.

Ngày 19/8/2024 anh Lăng Văn H2 (là em trai anh S) có đơn gửi Công an huyện L tố cáo Nguyễn Văn L có hành vi chém gây thương tích cho anh S.

Ngày 20/8/2024 Nguyễn Văn L đến Công an huyện L đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của bản thân.

Ngày 27/8/2024 anh Lăng Văn S có đơn yêu cầu khởi tố đối với Nguyễn Văn L.

Tại giấy chứng nhận thương tích ngày 30/8/2024 của Bệnh viện đa khoa tỉnh B xác định Lăng Văn S vào viện ngày 18/8/2024, ra viện ngày 27/8/2024. Tình trạng thương tích lúc vào viện:

  • Lơ mơ, tiếp xúc chậm, huyết áp: 70/40mmHg; SpO2 85%, mạch nhanh nhỏ khó bắt
  • Kích thích, xoắn vặn, da tái lạnh, niêm mạc nhợt nhiều
  • 02 vết thương lưng kích thước 10x03cm, lộ nhu mô phổi, lộ xương sườn 9 đứt ngang
  • Vết thương vùng môi trên má bên phải kích thước 06x03cm, chảy máu nhiều
  • Vết thương môi dưới kích thước 03x02cm
  • CT: Vỡ thành xoang hàm phải, tụ dịch xoang hàm phải. Gãy xương sườn 9 bên phải.
  • Tràn khí tự do lượng nhiều khoang màng phổi phải, ít dịch mỏng tự do khoang màng phổi phải.

Ngày 21/8/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích của Lăng Văn S. Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 2564/24/KLTTCT-TTPY ngày 22/8/2024 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:

  1. Dấu hiệu chính qua giám định:
    • - Thương tích vết thương đã khâu vùng má phải- môi trên bên phải kích thước trung bình : 6%
    • - Thương tích vết thương đã khâu vùng môi dưới kích thước nhỏ :3%
    • - Thương tích vết thương đã khâu vùng lưng phải kích thước trung bình:2%
  2. Căn cứ Thông tư số :22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2016 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể Lăng Văn S tại thời điểm giám định là: 11%(mười một phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

3. Kết luận khác :

  • Cơ chế hình thành thương tích : Các thương tích do vật sắc gây nên.
  • Trong Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y không có mục xác định vùng trọng yếu và hậu quả chết người.”(BL 32-36)

Ngày 21/9/2024 Cơ quan điều tra đã tiến hành thực hiện theo lời khai của anh Lăng Văn S và lời khai của bị can Nguyễn Văn L.

Quá trình điều tra bị can L khai: L cầm dao bằng tay trái chém vào vùng lưng, sườn của S, S cầm gậy bi a đánh về phía L 2-3 nhát nhưng không trúng. Sau đó L bỏ chạy đến trước cửa nhà anh P1 thì bị S cầm gậy bi a đập từ phía sau trúng vào má phải của L, L quay người lại dùng dao chém vào vùng mặt bên phải của S; anh Lăng Văn S khai: Khi S đang cầm gậy bi-a đứng trước cửa quán B thì thấy L cầm dao chạy đến, thấy vậy S vũng gậy lên đánh L, trúng hay không S không biết, sau đó L bỏ chạy thì S cầm gậy đuổi theo đến trước cửa nhà anh P1 thì S dùng gậy đánh trúng vào người L, L quay người lại dùng dao chém trúng vào vùng má bên phải của S. Việc L chém vào vùng lưng của S lúc nào thì S không biết. Ngày 21/9/2024 Cơ quan điều tra đã tiến hành thực nghiệm điều tra theo lời khai của L và anh S.(BL 181-188)

Ngày 24/9/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L Quyết định trưng cầu giám định bổ sung về cơ chế hình thành thương tích của Lăng Văn S, vật gây nên thương tích của anh S.

Tại bản kết luận giám định bổ sung qua hồ sơ số 2642A/24/KLTTCT-TTPY ngày 01/10/2024 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận: Dựa vào hồ sơ, tài liệu; Biên bản thực nghiệm điều tra; Bản ảnh thực nghiệm điều tra kết luận:

  • Chiều hướng và lực gây ra các vết thương tích: Các thương tích vết thương đã khâu vùng má phải đến môi trên bên phải và vết thương đã khâu môi dưới chiều hướng từ trước ra sau, từ phải sang trái. Lực tác động không mạnh. Thương tích vết thương đã khâu lưng phải chiều hướng từ sau ra trước, từ phải sang trái. Lực tác động không mạnh.
  • Theo tình huống thực nghiệm điều tra: Tình huống thực nghiệm điều tra theo lời khai Nguyễn Văn L gây được các thương tích cho Lăng Văn S. Tình huống thực nghiệm điều tra theo lời khai Lăng Văn S gây được thương tích tại vùng mặt của Lăng Văn S, không xác định được có gây được thương tích vùng lưng phải hay không.

Tại bản kết luận giám định bổ sung vật gây thương tích số 2642B/24/KLVGTT-TTPY ngày 04/10/2024 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh B kết luận : Căn cứ kết quả con dao được cơ quan trưng cầu giám định gửi đến phù hợp với đặc điểm của tổn thương, xác định: Con dao có đặc điểm nêu trên là vật gây ra được thương tích cho anh Lăng Văn S. Cụ thể con dao gửi giám định gây được: Vết thương lưng phải, vết thương vùng má phải đến môi trên bên phải, vết thương môi dưới cho anh Lăng Văn S.

Ngày 16/10/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành cho Nguyễn Văn L nhận dạng con dao L dùng để chém gây thương tích cho anh S. Kết quả L xác định con dao tại bản ảnh số 04 là con dao L dùng chém gây thương tích cho anh S ngày 18/8/2024 (BL102-106).

Ngày 14/10/2024 Cơ quan điều tra đã tiến hành cho Nguyễn Văn L, anh Lăng Văn S, anh Hoàng Văn T1, anh Ngô Hoàng A xem hình ảnh video đã thu giữ tại camera của gia đình của anh Hứa Văn C. Kết quả L, anh S, T1, Hoàng A đều xác định: anh Hoàng Văn T1 mặc áo sơ mi dài tay màu xanh mặc quần dài vải màu nâu; anh Lăng Văn S mặc áo phông đen, mặc quần (loại quần ngố) qua đầu gối màu đen là người cầm điện thoại trong video; anh Ngô Hoàng A mặc áo phông đen trước ngực có in dòng chữ màu trắng, mặc quần đùi màu đen; bị can Nguyễn Văn L mặc bộ quần áo cộc, có hoa trên quần áo đi dép tông. L là người dùng dao chém anh S và anh S dùng gậy bi-a đánh về phía L.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án bị cáo đã bồi thường cho anh Lăng Văn S tổng số tiền 80.000.000 đồng, anh S đã nhận đủ, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, đồng thời anh S có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo không có ý kiến gì đối với nội dung bản cáo trạng cũng như bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà, Hội đồng xét xử công bố lời khai của những đương sự vắng mặt trong quá trình điều tra. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa không có ý kiến gì về lời khai của những người này.

Bản cáo trạng số 150/CT-VKS ngày 10/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như đã viện dẫn ở trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; Thời gian thử thách từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngoài ra còn đề xuất về xử lý vật chứng.

Lời nói sau cùng: Bị cáo mong muốn Hội đồng xét xử giảm hình phạt cho bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, đương sự không có người nào có ý kiến hoạc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định có tội của bị cáo:

Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, cùng toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 18/8/2024 tại thôn B, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Văn L, sinh năm 2001, trú tại thôn B, xã K, huyện L và anh Lăng Văn S, sinh năm 1996, trú tại thôn C, xã K, huyện L đã xảy ra cãi vã, sô sát với nhau. Quá trình xảy ra cãi vã, sô sát, L đã dùng 01 con dao, có cán bằng gỗ màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại, có tổng chiều dài 37cm, bản dao rộng 9,5cm (là hung khí nguy hiểm) chém 01 nhát vào vùng lưng phải và 01 nhát vào vùng má phải của anh S, gây thương tích cho anh S 11% sức khỏe. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khỏe được pháp luật bảo vệ; Vì vậy Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.

[3] Đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho người bị hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại có đơn miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo; sau khi phạm tội ra đầu thú nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì vậy cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên bị cáo là người có nhân thân tốt; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nơi cư trú rõ ràng, luôn chấp hành mọi chính sách ở địa phương; để xẩy ra việc vi phạm pháp luật của bị cáo cũng một phần do lỗi của bị hại; xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo và không gây nguy hiểm cho xã hội nên không cần phải bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ để giáo dục riêng và phòng ngừa chung và theo đúng quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo. Xét mức hình phạt theo lập luận, đề nghị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã tự thỏa thuận bồi thường xong, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Các vấn đề khác:

Quá trình xảy ra số sát đánh nhau, anh Nguyễn Văn S1 có hành vi dùng gậy bi-a vụt một nhát vào vùng má phải của Nguyễn Văn L, tuy nhiên thương tích không lớn, chỉ bị bầm tím. L không đi điều trị tại cơ sở y tế nào và không có yêu cầu đề nghị gì. Do đó Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lăng Văn S về hành vi nêu trên là có căn cứ.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối vật chứng thu giữ 02 (hai) đoạn gây gỗ, 01 (một) con dao, 01 mảnh gỗ là công cụ bị cáo dùng vào mục đích phạm tội, không có giá trị, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu lấy lại nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ khoản điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo; Thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Cố ý gây thương tích”.

    Giao bị cáo Nguyễn Văn L cho UBND xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy:
    • 01 (một) đoạn gây gỗ, hình trụ, màu đen, có hoa văn, 01 đầu vát, có tổng chiều dài 58cm, điểm rộng nhất 2,5cm; đường kính 3,5cm;
    • 01 (một) đoạn gậy gỗ, đầu gậy màu nâu đen, tổng chiều dài 88,5cm, rộng 2,5cm, vát một đầu phía dưới;
    • 01 (một) con dao, cán gỗ màu vàng, lưỡi dao bằng kim loại, có tổng chiều dài 37cm, lưỡi dao có bản rộng nhất 9,5cm;
    • 01 mảnh gỗ kích thước (0,255x0,025)m
  3. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

    Bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ bản án.

Án xử công khai sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Công an huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - UBND xã Kiên Thành;
  • - Bị cáo; đương sự;
  • - Lưu: VP và hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 150/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 150/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger