|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN TỈNH LẠNG SƠN Bản án số: 150/2024/HS-ST Ngày 14-11-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN - TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Ninh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đoàn Văn Xây;
Bà Hoàng Thị Xuân.
Thư ký phiên tòa: Bà Lành Thị Thanh Nụ - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 147/2024/TLST-HS, ngày 18 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 149/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với:
Bị cáo Hà Quý T, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 28 tháng 02 năm 1986 tại tỉnh Lạng Sơn; căn cước công dân số: [...], cấp ngày 16/5/2024, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện tại: Số I, Phố K, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Hà Quý T1 và bà Chung Thị M; vợ, con: Không có; tiền án: 03 tiền án: Bản án số 180/2017/HSST ngày 23/11/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (chấp hành xong án phí tháng 3/2018, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/9/2018, chưa được xóa án tích). Bản án số 103/2019/HSST ngày 11/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn xử phạt 01 năm tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (chấp hành xong án phí tháng 9/2019, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/4/2020, chưa được xóa án tích). Bản án số 10/2021/HSST ngày 20/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội Cướp giật tài sản (chấp hành xong án phí ngày 10/3/2021, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/12/2023, chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật; bị tạm giam từ ngày 05/8/2024 đến nay; có mặt.
- Bị hại: Ban Q; địa chỉ: đường B, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn T2, sinh năm 1962; nơi cư trú: Số E, Phố K, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn - Trưởng bộ phận quản lý các ban thờ và hòm công đức đền Q; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Hà Văn C, sinh năm 1941; nơi cư trú: Số I, Phố K, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Dương Đức T3; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 05/8/2024, Hà Quý T một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 12K3-6584 từ nhà đến khu vực chợ G, đường B, phường H, thành phố L. Khi đi qua đền Q, đường B, phường H, thành phố L, Hà Quý T nẩy sinh ý định vào trong đền trộm cắp tiền lễ ở trên các ban vị. Hà Quý T dừng xe và để ở khu vực đường T rồi đi bộ vào trong đền, quan sát xung quanh thấy đền vắng khách và không có người trông coi, Hà Quý T đến các ban thờ nhặt tiền đặt trên các ban thờ được 81.000 đồng, Hà Quý T cất giấu tiền vào cạp quần đang mặc rồi đi ra đường T lấy xe mô tô về nhà.
Sau khi phát hiện bị mất tài sản, cùng ngày ông Phạm Văn T2 - là T4 bộ phận quản lý các ban thờ và hòm công đức của đền Q đã đến Công an phường H, thành phố L trình báo về việc khoảng 10 giờ 50 phút ngày 05/8/2024, có 01 nam thanh niên trộm cắp tiền trên các ban thờ của đền Q. Rà soát camera an ninh trong đền phát hiện 01 đối tượng là nam giới, đeo kính, đội mũ bảo hiểm màu xanh dương, mặc áo màu nâu có vạch trắng ở ống tay áo, quần ngố kẻ, đi dép tổ ong. Cơ quan Điều tra đã thu giữ dữ liệu camera của đền ghi lại hình ảnh trên. Công an phường H tiến hành xác minh làm rõ danh tính đối tượng trộm cắp tài sản trong đền Q, triệu tập Hà Quý T để làm việc. Tại Cơ quan Công an, Hà Quý T khai ngày 05/8/2024 tại đền Q, Hà Quý T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên, mục đích để có tiền tiêu sài, Hà Quý T đã giao nộp số tiền trộm cắp cùng phương tiện là xe mô tô biển kiểm soát 12K3-6584 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra.
Bản Kết luận giám định số 1012/KL-KTHS ngày 25/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh L về việc giám định kỹ thuật số điện tử kết luận: 01 (một) tập tin video định dạng mp4 có tên "hiv00052" dung lượng 256MB không phát hiện cắt ghép, chỉnh sửa.
Bản Kết luận giám định số 955/KL-KTHS ngày 07/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh L về việc giám định số tiền Việt Nam gồm các mệnh giá sau 06 tờ mệnh giá 10.000 đồng; 01 tờ mệnh giá 5.000 đồng; 08 tờ mệnh giá 2.000 đồng, tổng cộng 81.000 đồng. Toàn bộ số tiền Việt Nam được niêm phong trong phong bì gửi giám định đều là tiền thật.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu xanh - đen, biển kiểm soát 12K3-6584 xác định người đăng ký xe tên Hà Quý T1 (bố của Hà Quý T), hiện nay ông Hà Quý T1 đang sinh sống tại Nhật Bản, chiếc xe trên do ông Hà Văn C, sinh năm 1941, trú tại số I, phố K, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn (ông nội Hà Quý T) quản lý sử dụng. Ngày 05/8/2024, Hà Quý T tự ý lấy chiếc xe trên để đi lại, việc Hà Quý T có hành vi vi phạm pháp luật ông Hà Văn C không được biết. Ngày 07/8/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại xe mô tô trên cho ông Hà Văn C. Cơ quan điều tra đã trả lại số tiền 81.000 đồng cho Ban quản lý đền Tả Phủ
Về dân sự: Ban Q, người đại diện là ông Phạm Văn T2 không có yêu cầu.
Với nội dung vụ án như trên, tại bản Cáo trạng số 144/CT-VKS, ngày 18/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Hà Quý T về tội Trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Hà Quý T khai nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng đã truy tố.
Quá trình điều tra và tại đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bị hại trình bày: Ngày 05/8/2024 bị cáo Hà Quý T vào đền Q trộm cắp số tiền 81.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trả lại số tiền 81.000 đồng cho đền Q, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự; đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
Quá trình điều tra và tại đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án trình bày: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu xanh - đen, biển kiểm soát 12K3-6584 là của ông Hà Quý T1, nhưng chiếc xe trên do ông Hà Văn C quản lý sử dụng. Ngày 05/8/2024, Hà Quý T tự ý lấy chiếc xe trên để đi lại, việc Hà Quý T có hành vi vi phạm pháp luật ông Hà Văn C không được biết. Ngày 07/8/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại xe mô tô trên cho ông Hà Văn C, ông không yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Quý T phạm tội Trộm cắp tài sản; áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì bị cáo không có tài sản riêng, không có khả năng thi hành; về bồi thường dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì khác nên không đề nghị xem xét. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí 200.000 đồng theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận, bị cáo Hà Quý T không tranh luận.
Lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng đều vắng mặt nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, lời khai của những người vắng mặt tại cơ quan điều tra đã rõ, do đó việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử, căn cứ Điều 292, Điều 293, 296 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt những người nêu trên.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng và việc thu thập bảo quản tài liệu, chứng cứ của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt quả tang, vật chứng thu giữ, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, do đó có đủ căn cứ xác định: Bị cáo Hà Quý T lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, khoảng 11 giờ ngày 05/8/2024, tại đền Q, đường B, phường H, thành phố L, Hà Quý T có hành vi trộm cắp tiền trên ban thờ của đền Q trị giá 81.000 đồng. Số tiền bị cáo trộm cắp lần này dưới 2.000.000 đồng, nhưng tại Bản án số 10/2021/HSST ngày 20/01/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn đã kết án bị cáo phạm tội Cướp giật tài sản, xử phạt 03 năm 06 tháng tù, bị cáo chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; nên lần thực hiện hành vi trộm cắp này là phạm tội Trộm cắp tài sản. Năm 2017 bị cáo bị kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích (tại Bản án số 180/2017/HSST ngày 23/11/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn); năm 2019 bị cáo bị kết án về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích (tại Bản án số 103/2019/HSST ngày 11/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn); năm 2021 lại tiếp tục phạm tội Cướp giật tài sản là thuộc trường hợp "tái phạm nguy hiểm". Như vậy, lần phạm tội này bị cáo Hà Quý T phạm tội Trộm cắp tài sản thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Hà Quý T về tội Trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội, vì vậy cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[4] Về nhân thân: Bị cáo có 03 tiền án, trong đó có 02 tiền án về tội chiếm đoạt tài sản. Bị cáo biết rõ quy định của pháp luật xử lý đối với loại tội phạm này, không lấy đó là bài học để tu dưỡng sửa chữa sai phạm mà cố ý tiếp tục thực hiện tội phạm, nên xác định bị cáo có nhân thân xấu.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 03 tiền án chưa được xóa án tích, trong đó có 01 tiền án năm 2021 được áp dụng là tình tiết định tội; 02 tiền án năm 2017 và 2019 được áp dụng là tình tiết định khung hình phạt tái phạm nguy hiểm, nên không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi bị phát hiện, bị cáo đã tự giác nộp lại số tiền trộm cắp 81.000 đồng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; có bố đẻ được tặng thưởng huân chương chiến sĩ vẻ vang, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[7] Căn cứ tính chất, vai trò, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, xét thấy việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là cần thiết, để cải tạo giáo dục bị cáo sớm trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, góp phần răn đe và phòng ngừa tội phạm tại địa phương.
[8] Về hình phạt bổ sung: Tại biên bản xác minh ngày 19/9/2024, bị cáo không có tài sản riêng, việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[9] Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu xanh - đen, biển kiểm soát 12K3-6584 ngày 07/8/2024, xác định người đăng ký xe tên Hà Quý T1 (bố của bị cáo Hà Quý T), chiếc xe trên do ông Hà Văn C (ông nội bị cáo Hà Quý T) quản lý sử dụng. Ngày 05/8/2024, bị cáo Hà Quý T tự ý lấy chiếc xe trên để đi lại, việc bị cáo có hành vi vi phạm pháp luật ông Hà Văn C không được biết. Ngày 07/8/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã trả lại xe mô tô trên cho ông Hà Văn C. Việc trả xe là đúng quy định pháp luật.
[10] Về bồi thường dân sự: Cơ quan điều tra đã thu hồi và trả lại số tiền 81.000 đồng cho Ban Q. Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Hội đồng xét xử không xem xét.
[11] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[12] Ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
[13] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Tuyên bố bị cáo Hà Quý T phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hà Quý T 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (05/8/2024).
- Án phí: Bị cáo Hà Quý T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hải Ninh |
Bản án số 150/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 150/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HÀ QUÝ T - TRỘM CẮP TÀI SẢN
