Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH XUYÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số:150/2024/HS-ST

Ngày 08 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Nữ Hương Huyền

Các Hội thẩm Nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hảo và ông Dương Văn Điệp

Thư ký phiên toà: Bà Khổng Thị Đức Hậu- Thư ký Toà án Nhân dân huyện Bình Xuyên.

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Bình Xuyên tham gia phiên toà: Bà Kiều Thị Mai- Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 142/2024/HS-ST ngày 16 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 145/2024/HSST- QĐ ngày 25 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Hữu P, sinh ngày 04/4/1974 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú : Thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Sỹ P1 và bà Nguyễn Thị H; vợ: Phạm Tú U, con: có 02; lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2009.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 90/2017/HSST ngày 14/9/2017 của Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Lê Hữu P 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/3/2019, chấp hành xong án phí ngày 01/3/2018 (đã được xóa án tích).

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/8/2024 cho đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lê Hữu P là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 11 giờ ngày 06/08/2024, P có nhu cầu sử dụng ma túy nên cầm theo 01 bơm kim tiêm loại 300ml chưa qua sử dụng và 01 lọ nước cất (P mua sẵn từ trước) để ở túi quần phía trước bên trái đang mặc đi bộ từ nhà đến thị trấn G, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đi đến khu vực đường C thuộc tổ dân phố S, thị trấn G, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, P gặp 01 nam giới không quen biết khoảng 30 tuổi, cao khoảng 1,60 mét, dáng người gầy, đeo khẩu trang, đội mũ bảo hiểm, P hỏi mua 01 gói ma túy Heroine thì người này giới thiệu tên “T” và lấy trong người 01 gói ma túy Heroine bán cho P với giá 300.000 đồng, P trả tiền rồi cầm gói ma túy cất vào túi quần bên phải và đi bộ về xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm địa điểm sử dụng. Khi đi đến đường liên thôn thuộc thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc thì P bị lực lượng Công an huyện B nghi vấn kiểm tra phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy vào hồi 11 giờ 30 phút cùng ngày và thu giữ tang vật, gồm:

- T1 tại túi quần phía trước bên phải đang mặc trên người của P 01 gói giấy nhỏ, kiểm tra bên trong có chứa chất cục bột màu trắng được miêm phong trong phong bì ký hiệu A;

- Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái của P đang mặc 01 bơm kim tiêm loại 300ml chưa qua sử dụng và 01 lọ thủy tinh bên trong có chứa chất lỏng màu trắng, mặt ngoài lọ thủy tinh có ghi dòng chữ "LIDOCAIN".

Ngoài ra cơ quan điều tra còn thu 100ml mẫu nước tiểu của P được niêm phong trong chai nhựa kí hiệu A1 để phục vụ điều tra.

Ngày 10/8/2024, Phòng K Công an tỉnh V có Kết luận giám định số 2313 kết luận: “Chất cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,1975g, loại Heroine. Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: 0,1440 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói được niêm phong theo quy định.”

Ngày 13/8/2024, Phòng K Công an tỉnh V có Kết luận giám định số 2339 kết luận: “Tìm thấy chất ma túy Morphine trong mẫu nước tiểu thu của Lê Hữu P ký hiệu A1 gửi đến giám định. Hoàn trả lại đối tượng giám định: Không”.

Tại Cáo trạng số: 156/CT-VKSBX ngày 16/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên đã truy tố bị cáo Lê Hữu P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Hữu P khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Lê Hữu P từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 0,1440g ma túy Heroine và toàn bộ bao gói hoàn lại sau giám định; 01 bơm kim tiêm loại 300ml chưa qua sử dụng và 01 lọ thủy tinh chứa chất lỏng màu trắng .

Bị cáo không bào chữa, tranh luận khác. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội nêu trên của bị cáo Lê Hữu P tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người chứng kiến về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 06/8/2024, tại thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, Công an huyện B bắt quả tang Lê Hữu P có hành vi tàng trữ trái phép 0,1975 gam ma túy Heroine để sử dụng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Hữu P đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy hoặc thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, ........có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội, ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người; gây ra một lớp người nghiện trong xã hội làm tác hại cho chính bản thân người nghiện và gia đình họ cũng như cho cộng đồng nói chung. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, có mức cao nhất của khung hình phạt đến 05 năm tù nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm nghiêm trọng.

Hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ là để thỏa mãn nhu cầu nghiện của bản thân. Hiện tại trên địa bàn huyện B các tội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Do đó cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

Khi quyết định hình phạt có xem xét đến tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, bố đẻ bị cáo là ông Lê Sỹ P1 là thương binh hạng 2/4; là người có công được tặng thưởng Huy chương kháng chiến Hạng Nhất; Huy chương chiến sỹ Giải phóng nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo không có tài sản và nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Đối với người nam giới tên là T mà P khai là người bán ma túy cho P nhưng P không biết họ tên, địa chỉ của người này nên cơ quan điều tra không có cơ sở để xác minh làm rõ.

[6] Về vật chứng: Đối với 0,1440 gam ma túy Heroine và bao gói hoàn lại sau giám định; 01 bơm kim tiêm loại 300ml chưa qua sử dụng và 01 lọ thủy tinh cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố bị cáo Lê Hữu P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Lê Hữu P 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 06/8/2024).

[3] Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy 0,1440 gam ma túy Heroine và toàn bộ bao gói được niêm phong hoàn lại sau giám định; 01 bơm kim tiêm loại 300ml chưa qua sử dụng và 01 lọ thủy tinh chứa chất lỏng màu trắng.

(Tài sản có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/10/2024).

[4] Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Lê Hữu P phải chịu 200.000 đồng.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Viện kiểm sát huyện Bình Xuyên;
  • - Công an huyện Bình Xuyên;
  • - Trại tạm giam- CA Vĩnh Phúc;
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Nữ Hương Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 150/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 150/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TTmt
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger