|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 150/2024/HNGĐ-ST.
Ngày: 04/10/2024
“V/v yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng, đòi lại tài sản chung và tài sản riêng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Sương
2. Bà Nguyễn Thị Kim Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Lan
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình không tham gia phiên tòa.
Ngày 04 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở TAND huyện Tam Bình xét xử công khai vụ án thụ lý số: 381/2024/TLST-HNGĐ, ngày 05 tháng 8 năm 2024, về việc tranh chấp yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng và đòi lại tài sản chung và tài sản riêng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 147/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm: 1982 (Có mặt)
Địa chỉ: ấp P, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
Bị đơn: Anh Trần Minh N, sinh năm 1984 (Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp P, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Nguyễn Thị T trình bày: Chị T và anh Trần Minh N qua tìm hiểu, được gia đình cha mẹ hai bên chấp thuận, đi đến hôn nhân năm 2022, có làm lễ cưới theo phong tục tập quán nhưng không có đăng ký kết hôn.
Sau ngày cưới chị T cùng anh N về chung sống tại nhà cha mẹ ruột của anh N tại ấp P, xã S, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc. Đầu năm 2024 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, nguyên nhân tính tình không phù hợp, không có tiếng nói chung, cha mẹ hai bên hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả, đến tháng 5 năm 2024, chị T và anh N sống ly thân, mỗi người một nơi, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nay chị T nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chị yêu cầu Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị với anh Trần Minh N.
Về con chung: không có con chung, không yêu cầu giải quyết.
Về Tài sản chung: Cha mẹ chồng cho 10 chỉ vàng 24K trong ngày cưới, chị cho anh N mượn lại 10 chỉ vàng 24K bán lấy vốn làm ăn. Tuy nhiên sau đó anh N tiếp tục mượn tôi thêm 09 chỉ vàng 24K là tài sản riêng của chị dành dụm trước khi về chung sống với anh N, chị yêu cầu toà án giải quyết buộc anh N có nghĩa vụ trả cho chị 09 chỉ vàng 24K.
Bị đơn anh Trần Minh N trình bày: Về quan hệ hôn nhân chị T trình bày là đúng. Do vợ chồng thường xuyên xảy ra mẫu thuẫn, không hợp nhau, nay chị T yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng thì anh N đồng ý.
Về con chung: vợ chồng không có con chung, không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung: anh N thừa nhận có mượn chị T 09 chỉ vàng, là tài sản riêng của chị T có trước khi kết hôn là đúng, anh đồng ý trả lại cho chị T, tuy nhiên do làm ăn khó khăn cho anh thời gian trả từ từ, trả một lần anh không có khả năng.
Tại phiên toà chị Nguyễn Thị T trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện không công nhận quan hệ vợ chồng với anh Trần Minh N. Yêu cầu anh N có nghĩa vụ trả lại 09 chỉ vàng 24K chị cho anh N mượn là tài sản riêng chị dành dụm trước khi anh chị cưới nhau, giá vàng hiện tại 8.250.000đ/01 chỉ vàng 24K. Tại phiên toà chị T xin rút yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng.
Bị đơn anh Trần Minh N vắng mặt không rõ ly do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình không tham dự phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp “Không công nhận quan hệ vợ chồng và đòi lại tài sản chung và tài sản riêng” giữa nguyên đơn chị Nguyễn Thị T và bị đơn anh Trần Minh N thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Tam Bình, được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo luật định hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng bị đơn vắng mặt không rõ lý do. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bị đơn là có căn cứ.
Đình chỉ yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng là 10 chỉ vàng 24k được cha mẹ cho trong ngày cưới, do chị T tự nguyện rút yêu cầu không trái quy định của pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Trần Minh N về sống chung như vợ chồng vào năm 2022, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán nhưng không đăng ký kết hôn, nên quan hệ giữa chị T và anh N không được pháp luật công nhận là vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Hiện nay chị T và anh N đã không còn tình cảm với nhau, không thể đoàn tụ để tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, chị T và anh N đã ly thân từ tháng 5 năm 2024 đến nay. Do chị T và anh N chưa đăng ký kết hôn nên Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị T và anh N theo quy định tại khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: vợ chồng không có con chung, không yêu cầu giải quyết.
[4] Về tài sản riêng: anh N thừa nhận có mượn chị T 09 chỉ vàng 24K là tài sản riêng của chị T, do đó anh N có nghĩa vụ hoàn trả cho chị T 09 chỉ vàng 24k, giá vàng hiện tại trên thị trường có giá 8.250.000₫ / 01 chỉ vàng 24K, theo yêu cầu của chị T là có căn cứ chấp nhận.
[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị đơn Trần Minh N phri chịu án phí dân sự sơ thẩm 8.250.000đ/ 1 chỉ vàng x 9 = 74.250.000₫ x 5% = 3.712.000đ.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và các Điều 266; 267, 227, 228, khoản 1 Điều 244, khoản 3 Điều 218 của Luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, các Điều 16, 45, khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử :
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị T và anh Trần Minh N.
- Về con chung: không có không yêu cầu, không xem xét.
- Về tài sản chung: Đình chỉ xét xử yêu cầu chia tài sản chung 10 chỉ vàng cưới do nguyên đơn tự nguyện rút yêu cầu.
- Về tài sản riêng: Buộc anh Trần Minh N có nghĩa vụ hoàn trả cho chị Nguyễn Thị T 09 (Chín) chỉ vàng 24K.
- Về án phí: chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm được khấu trừ vào 3.050.000đ (Ba triệu không trăm năm mươi ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình, theo biên lai thu số 0014367 ngày 05/8/2024. Hoàn trả lại cho chị T số tiền tạm ứng án phí còn dư 2.750.000₫ (Hai triệu bảy trăm năm mươi ngàn đồng).
Buộc anh Trần Minh N phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm 3.712.000₫ (Ba triệu bảy trăm mười hai ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6/.Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Huỳnh Thị Linh |
Bản án số 150/2024/HNGĐ-ST ngày 04/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH TỈNH VĨNH LONG về yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng, đòi lại tài sản chung và tài sản riêng
- Số bản án: 150/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng, đòi lại tài sản chung và tài sản riêng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/10/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn
