|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. ĐÀ NẴNG TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 150/2024/DS-ST Ngày 30.9.2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng Tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thùy
Hội thẩm nhân dân: - Ông Phạm Xoa
- Ông Nguyễn Xuân Tùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hải Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 118/2024/TLST-DS ngày 27.3.2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2024/QĐXXST-DS ngày 26.8.2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 93/2024/QĐST-DS ngày 12.9.2024 giữa:
* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P. Trụ sở chính: Số D (Tầng trệt, tầng lửng, tầng 1, tầng 2 của tòa nhà) và số D L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1995 - Chức vụ: Chuyên viên (Theo Giấy ủy quyền về việc ủy quyền tham gia tố tụng và thi hành án số 723/2024/UQ-OCB ngày 20.02.2024). Địa chỉ: 3 Q, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng, (có mặt).
* Bị đơn: Ông Nguyễn Công M, sinh năm 1988. Địa chỉ tại: H T, tổ A, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng và bà Phan Thị Hoài S, sinh năm 1988. Địa chỉ: A Hồ T, tổ G, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/02/2024, các bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà ông Nguyễn Hoàng T là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP P (O) trình bày:
Ngân hàng TMCP P (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng) với ông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S đã ký Hợp đồng tín dụng số 0214/2021/TCV/HĐTD ngày 07/7/2021, 0214.01/PLHĐTD ngày 27/9/2021. Theo Hợp đồng tín dụng này Ngân hàng đồng ý cho ông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S vay số tiền là 2.300.000.000 đồng (Hai tỷ ba trăm triệu đồng) với lãi suất được quy định cụ thể tại Hợp đồng tín dụng trên. Ngày 07/7/2021, ông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S đã ký giấy nhận nợ và nhận số tiền trên tại Ngân hàng.
Tài sản đảm bảo cho khoản vay trên là bất động sản tại thửa A7-22, tờ bản đồ số TMB; Địa chỉ: Khu đô thị S tại khu đo thị mới Đ - Đ, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH733344 số vào sổ cấp GCN số CT 14774, do UBND tỉnh Q cấp ngày 18/4/2017, cập nhật thay đổi ngày 13/7/2021. Tài sản trên đã được ông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S thế chấp để vay vốn ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp số 0215/2021/CTV/HĐTC ngày 14/7/2021 và đã được Văn Phòng C, địa chỉ B Mẹ T, phường V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam chứng thực và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.
Từ thời điểm nhận nợ cho đến nay ông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S đã liên tiếp vi phạm các kỳ trả nợ cho Ngân hàng. Mặc dù, Ngân hàng đã nhiều lần tạo điều kiện cho ông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S trả nợ đúng kỳ hạn cho Ngân hàng nhưng mọi thiện chí của Ngân hàng đều không được ông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S đáp trả.
Tại phiên toà Ngân hàng yêu cầu ông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S phải trả toàn bộ số nợ cho ngân hàng. Cụ thể: tạm tính đến ngày 30/09/2024, tổng dư nợ của ông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S tại Ngân hàng là 2.252.736.357 đồng (Hai tỷ hai trăm năm mươi hai triệu bảy trăm ba mươi sáu nghìn ba trăm năm mươi bảy đồng), trong đó nợ gốc: 2.031.625.049 đồng; Nợ lãi & Phạt chậm trả: 221.111.308 đồng. Trong trường hợp ông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S không thanh toán thì tài sản bảo đảm được xử lý theo quy định của pháp luật để Ngân hàng thu hồi nợ.
* Đối với bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ nhiều lần cho bị đơn để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng ông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S không đến Tòa án tham gia tố tụng và cũng không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào nghị án là đảm bảo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Ngân hàng đã thực hiện đúng các thủ tục cho vay, giải ngân cũng như thế chấp. Các hợp đồng được ký kết giữa các bên là hợp pháp. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó, căn cứ các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, nay là Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền cả gốc và lãi là 2.252.736.357 đồng. Ngoài ra, ông M và bà S còn phải trả các khoản lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký từ ngày 01/10//2024 cho đến khi thanh toán toàn bộ dư nợ cho Ngân hàng.
Trương hợp ông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S thanh toán đầy đủ các khoản nợ cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng đã ký thì Ngân hàng hoàn trả giất chứng nhận tài sản thế chấp cho ông Nguyễn Công M.
Trường hợp ông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S không trả được nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 0215/2021/CTV/HĐTC ngày 14/7/2021 để thu hồi nợ cho Ngân hàng theo quy định tại Điều 299, 323 Bộ luật dân sự năm 2015.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tranh chấp giữa Ngân hàng TMCP P (O) với ông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Hải Châu theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm b khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hợp đồng tín dụng mà các bên đã giao kết là hợp đồng có hình thức và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật nên có hiệu lực đối với các bên tham gia giao dịch, đựợc pháp luật công nhận và bảo vệ. Tại phiên toà, bị đơn mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do nên HĐXX căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[2] Ngân hàng khởi kiện ông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S yêu cầu trả tiền vốn vay và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 0214/2021/TCV/HĐTD ngày 07/7/2021, 0214.01/PLHĐTD ngày 27/9/2021, tạm tính đến ngày 30/09/2024, ông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S còn nợ Ngân hàng là 2.252.736.357 đồng (Hai tỷ hai trăm năm mươi hai triệu bảy trăm ba mươi sáu nghìn ba trăm năm mươi bảy đồng), cụ thể: Nợ gốc: 2.031.625.049 đồng; Nợ lãi và phạt chậm trả: 221.111.308 đồng; Mục đích vay vốn là thanh toán tiền mua bất động sản. Trong trường hợp ông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S không trả được nợ Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp tại Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số: 0215/2021/CTV/HĐTC ngày 14/7/2021 theo quy định của pháp luật để Ngân hàng thu hồi nợ. Do đó, xác định đây là quan hệ tranh chấp về hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản được quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn HĐXX thấy:
[3.1] Ngân hàng đã thực hiện đúng các thủ tục cho vay, giải ngân cũng như thế chấp. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông M và bà S đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng nên Ngân hàng đề nghị Toà án buộc ông M và bà S phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng theo đúng quy định của pháp luật. Trường hợp ông M và bà S không thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì đề nghị Toà án xử lý tài sản bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật để Ngân hàng thu hồi nợ là có cơ sở. Do đó, căn cứ các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, nay là Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền cả gốc và lãi là 2.252.736.357 đồng trong đó: Tiền nợ gốc là: 2.031.625.049 đồng; Nợ lãi: 221.111.308 đồng. Ông M và bà S tiếp tục trả lãi phát sinh theo thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng số 0214/2021/TCV/HĐTD ngày 07/7/2021, 0214.01/PLHĐTD ngày 27/9/2021 đến khi thanh toán hết khoản nợ.
[4] Đối với yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp của Ngân hàng HĐXX thấy:
[4.1] Để đảm bảo khoản nợ vay, Ngân hàng cùng ông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S, ký Hợp đồng thế chấp để thế chấp tài sản đứng tên ông Nguyễn Công M theo Hợp đồng thế chấp số 0215/2021/CTV/HĐTC ngày 14/7/2021 đã được công chứng tại Văn phòng C và đã đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định. Xét nội dung và hình thức của hợp đồng thế chấp trên phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.
[4.2] Qua xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện tài sản thế chấp ngoài diện tích đất 150m² tại thửa số A7-22, tờ bản đồ số TMB, địa chỉ: Khu đô thị S mới Đ - Đ, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH733344, số vào sổ cấp GCN: CT 14774 do Ủy ban nhân dân tỉnh Q cấp ngày 18/4/2017 còn có nhà 2 tầng diện tích chiều dài 14m, chiều rộng 6m (mỗi sàn 84m²), kết cấu tường xây, sàn tầng 1 sàn bê tông cốt thép. Tầng 2 không rõ kết cấu mái, tường xây gạch. Khi xem xét nhà đất đang đóng cửa, không có ai quản lý, bị đơn vắng mặt nên Toà án chỉ xem xét hiện trạng từ bên ngoài. Trong trường hợp ông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S không trả được nợ thì tài sản thế chấp trên được xử lý theo quy định của pháp luật để Ngân hàng thu hồi toàn bộ nợ gốc, lãi và lãi phát sinh theo hợp đồng 0214/2021/TCV/HĐTD ngày 07/7/2021, 0214.01/PLHĐTD ngày 27/9/2021 được ký giữa các bên cho đến khi ông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S thanh toán hết nợ theo quy định tại Điều 299, 323 Bộ luật dân sự năm 2015. Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[5] Sau khi ông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S trả hết toàn bộ số nợ thì Ngân hàng TMCP P (O) phải hoàn trả cho ông Nguyễn Công M giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH733344, số vào sổ cấp GCN: CT 14774 do Ủy ban nhân dân tỉnh Q cấp ngày 18/4/2017 đứng tên ông Nguyễn Công M.
[6] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng Ngân hàng đã tạm nộp và đã chi phí xong nên cần buộc bị đơn là ông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S phải hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP P (O).
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên ông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[8] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu tại phiên tòa về thủ tục tố tụng và đề xuất về nội dung là đúng các quy định của pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, các Điều 144, 147, 235, 244, 271, 273, 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 299, Điều 323, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; nay là Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" của Ngân hàng TMCP P (O) đối với ông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S.
Xử:
- Buộc ông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP P (O) tổng số tiền 2.252.736.357 đồng (Hai tỷ hai trăm năm mươi hai triệu bảy trăm ba mươi sáu nghìn ba trăm năm mươi bảy đồng), cụ thể: Nợ gốc: 2.031.625.049 đồng; Nợ lãi và phạt chậm trả: 221.111.308 đồng, lãi suất được tiếp tục tính từ ngày 01.10.2024 theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 0214/2021/TCV/HĐTD ngày 07/7/2021, 0214.01/PLHĐTD ngày 27/9/2021 được ký giữa các bên cho đến khi ông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S thanh toán hết nợ.
Sau khi ông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S trả hết toàn bộ số nợ thì Ngân hàng TMCP P (O) phải hoàn trả cho ông Nguyễn Công M giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH733344, số vào sổ cấp GCN: CT 14774 do Ủy ban nhân dân tỉnh Q cấp ngày 18/4/2017 đứng tên ông Nguyễn Công M.
Trường hợp ông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S không trả nợ cho Ngân hàng TMCP P (O) thì tài sản thế chấp được xử lý theo quy định của pháp luật để Ngân hàng thu hồi nợ cụ thể là diện tích đất 150m2 tại thửa số A7-22, tờ bản đồ số TMB, địa chỉ: Khu đô thị S mới Đ - Đ, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam, theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH733344, số vào sổ cấp GCN: CT 14774 do Ủy ban nhân dân tỉnh
- Q cấp ngày 18/4/2017 cho ông Nguyễn Công M còn có nhà 2 tầng diện tích chiều dài 14m, chiều rộng 6m (mỗi sàn 84m²), kết cấu tường xây, sàn tầng 1 sàn bê tông cốt thép. Tầng 2 không rõ kết cấu mái, tường xây gạch. (Khi xem xét nhà đất đang đóng cửa, không có ai quản lý, bị đơn vắng mặt nên Toà án chỉ xem xét hiện trạng từ bên ngoài).
- Buộc ông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S phải hoàn trả cho Ngân hàng TMCP P (O) 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S phải chịu là 77.054.727 đồng (Bảy mười bảy triệu không trăm năm mươi bốn nghìn bảy trăm hai mươi bảy đồng). Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP P (O) số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 36.973.246 đồng (Ba mươi sáu triệu chín trăm bảy mươi ba nghìn hai trăm bốn mươi sáu đồng) đã nộp theo biên lai thu số 0000091 ngày 27.3.2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Ngọc Thuỳ |
Bản án số 150/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 150/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng Tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"của Ngân hàng T đối vớiông Nguyễn Công M và bà Phan Thị Hoài S
