|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUÂN Bản án số: 150/2024/DS-ST Ngày: 30-9-2024. (V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng). |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Thái
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Định Quốc; bà Lưu Thị Thôi .
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Châu, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Nhã Uyên - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 206/2024/TLST-DS, ngày 10 tháng 4 năm 2024, về việc: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 371/2024/QĐXXST-DS ngày 13/8/2024 và Quyết định Hoãn phiên tòa số 693/2024/QĐST-DS ngày: 13/9/2024, giữa:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K
Trụ sở chính: số 40, 42, 44 đường P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Địa chỉ: Lô E- Lô F, đường T, phường X, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M, Chức vụ: Tổng Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Trung V, Chức vụ: Phó Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP K, ủy quyền lại cho ông Đinh Việt Q, Giám đốc phòng xử lý nợ, (theo Quyết định số 3368A/QĐ-NHKL ngày 21 tháng 8 năm 2023) và ông Lê Văn A, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ, theo văn bản ủy quyền số 596/QĐ-NHKL ngày 05/3/2024.
- Bị đơn: Ông Trần Thế S, sinh năm 1986
Địa chỉ: Số A H, khu phố F, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Lê Văn A trình bày: Ngày 02/12/2016 Ngân hàng TMCP K chi nhánh B (Gọi tắt là Ngân hàng) có ký Hợp đồng cho ông Trần Thế S vay theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1, số 20016337000590 theo các nội dung như sau: Hạn mức: 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng), loại thẻ: JCB CREDIT GOLD – KHONG TSBD và VISA CREDIT CLASSIC – KHONG TSBD, Phương thức trả nợ: Theo quy định của Ngân hàng về sản phẩm thẻ Quốc tế; Điều kiện áp dụng: Theo quy định của Ngân hàng về sản phẩm thẻ Quốc tế; mục đích vay: tiêu dùng, thời hạn vay: 36 tháng, lãi suất cho vay: 22%/năm. Lãi suất chậm trả: 3,5%/số tiền chậm trả, phí vượt hạn mức: 0,075%/ngày. Kỳ hạn trả lãi vay: Hàng tháng.
Như vậy tính đến ngày 22/7/2024, ông Trần Thế S còn nợ Ngân hàng TMCP K số tiền cụ thể Thẻ Visa: 108.477.001 đồng (Trong đó: Vốn gốc còn lại 45.189.934 đồng, lãi phát sinh còn lại 33.457.359 đồng, phí phạt chậm trả còn lại 4.077.560 đồng, phí thường niên 199.000 đồng).
Căn cứ theo lịch trả nợ của hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng và ông ông S, ông S phải thanh toán gốc và lãi, phí phát sinh, tuy nhiên ông S không thực hiện như cam kết, do đó món vay đã chuyển nợ quá hạn từ ngày 24/12/2021.
Ngân hàng đã nhiều lần gọi điện thoại, làm việc trực tiếp với ông S, tuy nhiên ông S vẫn không có thiện chí trả nợ. Hiện nay ông S không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng chúng tôi theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết. Để đảm bảo quyền lợi của các bên, đảm bảo tuân thu pháp luật. Ngân hàng chúng tôi đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết giải quyết:
Buộc ông Trần Thế S phải trả cho Ngân hàng TMCP K tổng số tiền 111.656.309 đồng (Trong đó: Vốn gốc còn lại 45.189.934 đồng, lãi phát sinh còn lại 35.606.667 đồng, phí phạt chậm trả còn lại 26.183.148 đồng, phí phạt vượt hạn mức 4.477.560 đồng, phí thường niên 199.000 đồng).
Kể từ ngày 01/10/2024 ông S còn phải tiếp tục trả lãi, phí phát sinh cho đến khi hết nợ theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng, ngoài ra ông S còn phải chịu án phí và các chi phí tố tụng khác nếu có.
Bị đơn ông Trần Thế S: vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc của Tòa án không lý do. Tòa án tống đạt, niêm yết các văn bản theo quy định của pháp luật nhưng không ghi nhận được ý kiến trình bày của ông S.
Bị đơn ông Trần Thế S vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu ý kiến:
Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ sơ vụ án và kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa, Viện kiểm sát có ý kiến như sau:
- Về tố tụng: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 48 BLTTDS năm 2015, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp và tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng.
Về thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn mở phiên tòa, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 203 BLTTDS năm 2015. Thời hạn gửi hồ sơ cho VKS nghiên cứu đúng theo quy định tại Điều 220 BLTTDS năm 2015, việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát đúng các quy định của BLTTDS năm 2015.
- Về nội dung: Viện kiểm sát thấy rằng tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện đầy đủ nên căn cứ vào các Điều 70, 71, 91, Điều 147, Điều 227, Điều 233, Điều 235 BLTTDS 2015; Điều 463, Điều 465, Điều 466 BLDS 2015, Điều 91, 93, 95 Luật các tổ chức tín dụng; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn: Buộc ông Trần Thế S phải trả cho Ngân hàng TMCP K tổng số tiền 111.656.309 đồng (Trong đó: Vốn gốc còn lại 45.189.934 đồng, lãi phát sinh còn lại 35.606.667 đồng, phí phạt chậm trả còn lại 26.183.148 đồng, phí phạt vượt hạn mức 4.477.560 đồng, phí thường niên 199.000 đồng). Ngoài ra Bị đơn còn phải chịu án phí và các chi phí tố tụng khác.
Vụ án đã được Tòa án hòa giải nhưng không thành.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết:
Đây là vụ án tranh chấp Hợp đồng tín dụng, tại thời điểm ký kết hợp đồng bị đơn ông Trần Thế S có địa chỉ tại A đường H, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, nên căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.
[2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Tại phiên tòa, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Ngân hàng TMCP K yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
Buộc ông Trần Thế S phải trả cho Ngân hàng TMCP K toàn bộ số tiền gốc, lãi, phí, nghĩa vụ tài chính khác theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1, số 20016337000590) (bao gồm đề xuất cấp thẻ tín dụng và Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1), đối với số thẻ 20016337000590, do ông S ký với Ngân hàng ngày 02/12/2016. Tạm tính đến ngày 30/9/2024 tổng số tiền nợ là: 111.656.309 đồng (Trong đó: Vốn gốc còn lại 45.189.934 đồng, lãi phát sinh còn lại 35.606.667 đồng, phí phạt chậm trả còn lại 26.183.148 đồng, phí phạt vượt hạn mức 4.477.560 đồng, phí thường niên 199.000 đồng) và lãi phát sinh theo thỏa thuận của hợp đồng kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi trả dứt nợ, ngoài ra ông S còn phải chịu án phí và các chi phí tố tụng khác.
Xét yêu cầu trên HĐXX nhận thấy: giữa Ngân hàng TMCP K và ông Trần Thế S có ký kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1, số 20016337000590 ký ngày 02/12/2016; Hạn mức: 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), mục đích vay: tiêu dùng, thời hạn vay: 36 tháng, lãi suất cho vay: 22%/năm. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Trần Thế S đã giao dịch với tổng số tiền là 426.783.266 đồng, dư nợ tính đến ngày 30/9/2024 là: 111.656.309 đồng (Trong đó: Vốn gốc còn lại 45.189.934 đồng, lãi phát sinh còn lại 35.606.667 đồng, phí phạt chậm trả còn lại 26.183.148 đồng, phí phạt vượt hạn mức 4.477.560 đồng, phí thường niên 199.000 đồng). Hiện khoản vay đã quá hạn từ ngày 24/12/2021.
Các bên ký kết hợp đồng trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận bởi những người có đủ thẩm quyền. Về hình thức, nội dung của hợp đồng cũng không vi phạm điều cấm, không trái với các quy định của pháp luật và đạo đức xã hội nên hợp đồng tín dụng này là hợp pháp. Do vậy, sau khi ký thì các bên đã phát sinh quyền và nghĩa vụ nên buộc các bên phải có nghĩa vụ thực hiện đúng các điều khoản đã ký kết trong hợp đồng.
Quá trình thực hiện hợp đồng: Ngân hàng đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình giải ngân số tiền cho vay, ông Trần Thế S đã nhận đủ số tiền vay của hợp đồng thẻ tín dụng là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1 số 20016337000590 ký ngày 02/12/2016.
Tuy nhiên sau đó, ông S không thực hiện việc trả nợ đúng hạn, làm phát sinh nợ quá hạn như vậy đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng vay nợ. Tạm tính đến ngày 30/9/2024 là: 111.656.309 đồng (Trong đó: Vốn gốc còn lại 45.189.934 đồng, lãi phát sinh còn lại 35.606.667 đồng, phí phạt chậm trả còn lại 26.183.148 đồng, phí phạt vượt hạn mức 4.477.560 đồng, phí thường niên 199.000 đồng).
Ngân hàng đã nhiều lần gọi điện thông báo, gửi Thông báo nợ nhằm xử lý khoản nợ quá hạn nhưng ông S không thực hiện theo cam kết trả nợ cho Ngân hàng. Như vậy chứng tỏ phía bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, không thực hiện đúng các nội dung đã ký kết trong hợp đồng, cố tình kéo dài việc tất toán nợ, mặt khác ông S vắng mặt không lý do vào tất cả các buổi làm việc do Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết thông báo, ông đã được tống đạt tất cả các văn bản do Tòa án ban hành đúng quy định, ngoài ra ông cũng không gởi bản trình bày cho Tòa án. HĐXX nhận thấy việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ là phù hợp.
Về tiền lãi và phí phát sinh: Do Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1, số 20016337000590 ký ngày 02/12/2016 ông Trần Thế S đã ký với Ngân hàng TMCP K phù hợp với các quy định của pháp luật nên các bên phải tuân thủ đúng nội dung của hợp đồng. Phía bị đơn phải trả tiền lãi và phí phát sinh như hợp đồng đã ký kết. Tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tổng nợ lãi phát sinh còn lại là lãi phát sinh còn lại 35.606.667 đồng, phí phạt chậm trả còn lại 26.183.148 đồng, phí phạt vượt hạn mức 4.477.560 đồng, phí thường niên 199.000 đồng theo thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi trả dứt nợ cho Ngân hàng là có cơ sở chấp nhận.
Khoản vay này ông S không có tài sản thế chấp.
Từ những nhận định trên, nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thành phố P là phù hợp.
[4] Về án phí: Nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm. Bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng và án phí Dân sự sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào: Điều 5, khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 147, Điều 227, Điều 233, Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, Điều 465, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 93, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Luật Thi hành án Dân sự; Khoản 2 điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban T1 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc ông Trần Thế S phải trả cho Ngân hàng TMCP K tổng số tiền nợ tính đến ngày 30/9/2024 là: 111.656.309 đồng (Trong đó: Vốn gốc còn lại 45.189.934 đồng, lãi phát sinh còn lại 35.606.667 đồng, phí phạt chậm trả còn lại 26.183.148 đồng, phí phạt vượt hạn mức 4.477.560 đồng, phí thường niên 199.000 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (01/10/2024) ông Trần Thế S còn phải tiếp tục thực hiện trả toàn bộ số tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết các khoản nợ và các khoản phí, lệ phí theo quy định đã ký kết của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1, số 20016337000590 (bao gồm đề xuất cấp thẻ tín dụng và Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế K1), ký ngày 02/12/2016.
- Về án phí: Do yêu cầu của Nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn Ngân hàng TMCP K không phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm. Ông Trần Thế S phải chịu 5.582.815 đồng án phí Dân sự sơ thẩm. Ngày 09/4/2024 nguyên đơn đã nộp 2.251.000 đồng tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001547 do Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Phan Thiết thu nay được hoàn trả cho Ngân hàng TMCP K.
- Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, đối với nguyên đơn kể từ ngày tuyên án (30/9/2024), đối với bị đơn kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án nơi cư trú.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Phan Thị Thái |
Bản án số 150/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 150/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Kiên Long tranh chấp hợp đồng tín dụng với Trần Thế Sơn
