|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 150/2024/DS-ST Ngày: 11/9/2024. V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Hồng Diễm Phúc
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Trần Thị Ngọc Hạnh;
- Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 355/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 7 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2024/QĐXXST – DS ngày 16 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1974; nơi thường trú: Đường H, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Phạm Thanh T, sinh năm 1993; nơi thường trú: Tổ A, khu phố B, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Ngọc N, sinh năm 1976; địa chỉ: Số E, đường P, khu phố G, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong Đơn khởi kiện đề ngày 17/6/2024 (nộp ngày 11/3/2024) và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Văn P trình bày:
Do có mối quan hệ quen biết với bà Phạm Thanh T nên vào tháng 01/2022 bà T cần tiền làm ăn nên ông P cho bà T vay số tiền 400.000.000 đồng theo giấy vay tiền ngày 19/01/2022 với thời hạn vay 03 tháng từ ngày 19/01/2022 đến ngày 19/4/2022. Phương thức cho vay là tiền mặt, không thỏa thuận lãi suất. Tại Hợp đồng cho mượn tiền ngày 19/01/2022 phần ký tên, ghi rõ họ tên của bà Nguyễn Thị Ngọc N là người bảo lãnh nhưng thực tế thì bà N chỉ là người làm chứng việc bà T có vay của ông P số tiền 400.000.000 đồng, bà N không phải là người bảo lãnh cho khoản vay nêu trên. Đến hạn trả nợ, ông P đã nhiều lần yêu cầu bà T trả nợ nhưng bà T không chịu hợp tác và luôn tìm cách tránh mặt ông P nên ông P khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà Phạm Thanh T có trách nhiệm trả lại cho ông Nguyễn Văn P số tiền gốc là 400.000.000 đồng và và tiền lãi chậm trả được tính theo mức lãi suất là 10%/năm (tương đương 0,83%/tháng), tính từ ngày 19/4/2022 đến ngày 11/9/2024: 400.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 28 tháng 23 ngày = 95.505.333 đồng.
Tổng cộng số tiền ông Nguyễn Văn P yêu cầu bà Phạm Thanh T trả là 495.505.000 đồng.
Chứng cứ nguyên đơn cung cấp: Hợp đồng cho mượn tiền đề ngày 19/01/2022.
2. Tại bản tự khai ngày 15/8/2024 bị đơn bà Phạm Thanh T trình bày:
Ngày 19/01/2024 bà T có vay của ông Nguyễn Văn P số tiền 800.000.000 đồng theo hợp đồng cho mượn tiền lập ngày 19/01/2022 để làm ăn. Thời hạn vay từ 19/01/2022 đến ngày 19/4/20222, không thỏa thuận lãi. Hình thức cho vay bằng tiền mặt. Để đảm bảo cho khoản vay nêu trên bà T có thế chấp cho ông P quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất thuộc thửa đất số 136, tờ bản đồ số 57, diện tích 220m² tọa lạc xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương. Sau đó cùng ngày bà T tiếp tục vay của ông P 400.000.000 đồng theo Hợp đồng cho mượn tiền đề ngày 19/01/2022. Thời hạn vay từ 19/01/2022 đến ngày 19/4/20222, không thỏa thuận lãi. Hình thức cho vay bằng tiền mặt. Lý do tại Hợp đồng cho mượn tiền đề ngày 19/01/2022 có đề cập đến quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 136, tờ bản đồ số 57, diện tích 220m² tọa lạc xã A, huyện D, tỉnh Bình Dương là do đối với hợp đồng cho mượn tiền ngày 19/01/2022 bà T vay của ông P 800.000.000 đồng thì bà T có thế chấp thửa đất số 136, sau đó bà T cần thêm tiền nên tiếp tục vay thêm của ông P 400.000.000 đồng. Đối với số tiền vay 400.000.000 đồng ngày 19/01/2022 bà T không có thế chấp tài sản gì cho ông P. Quá trình vay số tiền 400.000.000 đồng, bà T đã trả cho ông P 96.000.000 đồng, dưới hình thức tiền mặt, không có lập văn bản giao nhận tiền. Tại Hợp đồng cho mượn tiền ngày 19/01/2022 phần ký tên, ghi rõ họ tên của bà Nguyễn Thị Ngọc N là người bảo lãnh nhưng thực tế thì bà N chỉ là người làm chứng chứng kiến việc bà T có vay của ông P số tiền 400.000.000 đồng, bà N không phải là người bảo lãnh. Nay trước yêu cầu khởi kiện của ông P, bà T không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông P.
2. Tại bản tự khai đề ngày 01/8/2024 người làm chứng bà Nguyễn Thị Ngọc N trình bày:
Ngày 19/01/2022 bà N có chứng kiến việc ông Nguyễn Văn P có cho bà T vay số tiền 400.000.000 đồng theo Hợp đồng cho mượn tiền ngày 19/01/2022. Theo nội dung các bên thống nhất thỏa thuận tại Hợp đồng cho mượn tiền ngày 19/01/2022 thì phương thức cho vay là tiền mặt (ông P có giao đủ cho bà T 400.000.000 đồng tiền mặt). Mức lãi suất theo quy định của nhà nước. Thời hạn vay là từ ngày 19/01/2022 đến ngày 19/4/2022. Bà N không biết từ ngày 19/4/2022 đến nay bà T có trả tiền vay cho ông P chưa. Trong đơn khởi kiện ông P xác định bà Nguyễn Thị Ngọc N là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là không đúng. Bà N chỉ là người làm chứng chứng kiến ngày 19/01/2022 ông P có cho bà T vay số tiền 400.000.000 đồng, giao tiền mặt cho bà T. Bà N không có liên quan gì đến việc cho vay của ông P và cũng không phải là người bảo lãnh. Lý do bà N ghi người bảo lãnh là do sơ suất về cách sử dụng từ ngữ.
5. Tại phiên tòa:
5.1 Các đương sự:
- Nguyên đơn trình bày ý kiến tranh luận: Bà Trúc T vay của ông P 400.000.000 đồng, hẹn ngày 19/4/2022 trả. Nay bà T vi phạm nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn thì phải có trách nhiệm trả tiền gốc 400.000.000 đồng và lãi từ ngày 19/4/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 11/9/2024 là: 400.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 28 tháng 23 ngày = 95.505.000 đồng. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Bị đơn bà Phạm Thanh T có đơn yêu cầu xét xử váng mặt nên không có ý kiến tranh luận.
5.2. Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát có ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình tố tụng từ khi thụ lý đến trước khi khai mạc phiên tòa, Thẩm phán đã tiến hành đúng và đầy đủ các quy định về thủ tục tố tụng được quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án được đưa ra xét xử đúng thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định tại chương XIV của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng: Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải có trách nhiệm trả tiền nợ gốc
400.000.000 đồng và lãi từ ngày 19/4/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 11/9/2024 là: 400.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 28 tháng 23 ngày = 95.505.333 đồng.
Ngoài ra, Kiểm sát viên không kiến nghị gì thêm
Các đương sự không cung cấp, bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà Phạm Thanh T có trách nhiệm trả cho nguyên đơn bà ông Nguyễn Văn P nợ gốc 400.000.000 đồng và tiền lại chậm thanh toán theo quy định theo Hợp đồng cho mượn tiền ngày 19/01/2022 được ký kết giữa ông Nguyễn Văn P và bà Phạm Thanh T. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp hợp đồng vay tàu sản” đây là loại tranh chấp hợp đồng được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Nguyên đơn ông Nguyễn Văn P khởi kiện bị đơn bà Phạm Thanh T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà Phạm Thanh T có trách nhiệm trả cho nguyên đơn bà ông Nguyễn Văn P nợ gốc 400.000.000 đồng và tiền lại chậm thanh toán theo quy định theo Hợp đồng cho mượn tiền ngày 19/01/2022 được ký kết giữa ông Nguyễn Văn P và bà Phạm Thanh T. Ông P xác định số tiền này là tài sản riêng của ông P. Bà Nguyễn Thị L là vợ của ông P có bản cảm kết số tiền này là tài sản riêng của ông P, vì vậy Tòa án không triệu tập bà L tham gia vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Tại đơn khởi kiện đề ngày 17/6/2024 nguyên đơn ông Nguyễn Văn P xác định bà Nguyễn Thị Ngọc N là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Trong hợp đồng cho mượn tiền đề ngày 19/01/2022 bà N ký tên người bảo lãnh, tuy nhiên quá trình tố tụng, bà N, nguyên đơn và bị đơn cùng xác định bà N chỉ là người làm chứng chứng kiến việc bà T vay của ông P 400.000.000 đồng, không phải là người bảo lãnh, không liên quan đến Hợp đồng cho mượn tiền đề ngày 19/01/2022. Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án không thể hiện bà N có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử xác định tư cách tố tụng của bà N là người làm chứng, không đưa bà N vào tham gia vụ án với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
[1.3] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị đơn bà Phạm Thanh T và người làm chứng bà Nguyễn Thị Ngọc N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Giữa nguyên đơn và bị đơn thống nhất ngày 19/01/2022 nguyên đơn có cho bị đơn vay số tiền 400.000.000 đồng, không thế chấp tài sản, thời hạn vay từ ngày 19/01/2022 đến 19/4/2022, hình thức vay bằng tiền mặt, không thỏa thuận lãi suất. Do làm ăn khó khăn nên bà T không thực hiện trả số tiền như thời gian đã cam kết. Lời thừa nhận của các đương sự là tình tiết không không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2.2] Theo thỏa thuận của hai bên tại Hợp đồng cho mượn tiền ngày 19/01/2022, thời hạn vay 03 tháng từ ngày 19/01/2022 đến ngày 19/4/2022. Căn cứ quy định của Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 về nghĩa vụ trả nợ của bên vay: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn...”. Ông P xác định từ khi đến hạn trả nợ cho đến nay bà T chưa trả cho ông P khoản tiền nào. Bị đơn bà T cho rằng do làm ăn khó khăn nên bà T không thực hiện trả số tiền nợ theo đúng thời hạn đã cam kết. Bà T xác định quá trình vay bà T đã trả cho ông P số tiền 96.000.000 đồng nhưng không có lập văn bản giao nhận tiền. Tuy nhiên điều này không được ông P thừa nhận và bà T không có tài liệu chứng cứ chứng minh việc bà T đã thanh toán nợ gốc cho ông P số tiền 96.000.000 đồng. Vì vậy, ông P khởi kiện yêu cầu bà T trả số tiền vay 400.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận.
[2.3] Xét tiền lãi, tại Hợp đồng cho mượn tiền ngày 19/01/2022 các bên thừa nhận không thỏa thuận về lãi, chỉ thỏa thuận đến ngày 19/4/2022, bà T phải trả đầy đủ tiền nợ gốc. Như vậy, xác định thỏa thuận vay giữa các bên là vay có thời hạn và không có lãi. Đến hạn trả nợ bà T không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền nên phải chịu trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự, lãi suất chậm trả được tính là 10%/năm (tương đương 0,83%/tháng) theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, tính từ ngày 19/4/2022 đến ngày 11/9/2024 trên số tiền chậm trả tương ứng tương đương 400.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 28 tháng 23 ngày = 95.505.333 đồng. Yêu cầu của ông P về tiền lãi là phù hợp với quy định của pháp luật nên có căn cứ chấp nhận.
[1] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thanh T phải chịu án phí có giá ngạch được tính trên tổng số tiền phải trả cho ông Nguyễn Văn P theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 357, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào các Điều 92, 144, 147, 227, 228, 238 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn P đối với bà Phạm Thanh T.
Buộc bà Phạm Thanh T có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Văn P số tiền nợ tính đến ngày 11/9/2024 là 495.505.333 đồng (bốn trăm chín mươi lăm triệu năm lẻ năm nghìn ba trăm ba mươi ba đồng), trong đó bao gồm: tiền nợ gốc là 400.000.000 (bốn trăm triệu) đồng và tiền lãi 95.505.333 đồng (chín mươi lăm triệu năm lẻ năm nghìn ba trăm ba mươi ba đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thanh T phải chịu 23.820.213 đồng (hai mươi ba triệu tám trăm hai mươi nghìn hai trăm mười ba đồng). Trả lại cho ông Nguyễn Văn P 11.280.000 (mười một triệu hai trăm tám mươi nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003387 ngày 20/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
3. Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Hồng Diễm Phúc |
Bản án số 150/2024/DS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 150/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Văn P khởi kiện ông Phạm Thanh T về việc: "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
