|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 150/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20/8/2024
V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đẹp
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Phước
- Bà Võ Tuyết Kha
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Nhiên – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 142/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 277/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1983. Địa chỉ: Khu phố R, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
2. Bị đơn: Chị Phạm Thị X, sinh năm 1983. Địa chỉ: ấp T, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
(Anh T có đơn xin vắng mặt, chị X vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, lời khai có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Thanh T trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị X sống chung từ năm 2008, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã V và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 20/7/2009. Vợ chồng anh đã ly thân do vợ chồng sống chung không hợp nhau, thường xuyên mâu thuẫn và không còn tình cảm. Nay anh T yêu cầu được ly hôn với chị X.
Về con chung: Anh T và chị X có hai người con chung là Nguyễn Hoàng T1, sinh ngày 30/5/2009 và Nguyễn Hoàng Y, sinh ngày 29/01/2023, hiện tại hai cháu đang sống với chị X. Khi ly hôn, anh T yêu cầu giao hai con chung cho chị X tiếp tục nuôi, anh T đồng ý cấp dưỡng nuôi hai con chung theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn chị Phạm Thị X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên Tòa án không lấy được lời khai.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; Đối với nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn chưa chấp hành quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng việc chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu trễ so với quy định.
- Về nội dung vụ án:
+ Về hôn nhân: Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cho anh Nguyễn Thanh T được ly hôn với chị Phạm Thị X.
+ Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Hoàng T1, sinh ngày 30/5/2009 và Nguyễn Hoàng Y, sinh ngày 29/01/2023 cho chị X tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở.
+ Về cấp dưỡng: Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu T1 và cháu Y, mỗi cháu là 2.480.000 đồng/tháng/cháu cho đến khi các cháu tròn 18 tuổi.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
+ Về án phí: Anh T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm và cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[2] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Anh T khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị X, chị X đang cư trú trên địa bàn huyện P nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Phước Long thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Chị X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, anh T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt anh T và chị X là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về hôn nhân: Anh T và chị X tự nguyện sống chung từ năm 2008 và có đăng ký kết hôn đúng theo quy định. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị X là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình thì vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, nhưng anh T và chị X không sống chung với nhau mà hai bên không có hành động gì để hàn gắn hôn nhân. Mặc khác, Tòa án đã triệu tập chị X nhiều lần nhưng chị X vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, điều đó chứng tỏ chị X không có thiện ý hàn gắn, đoàn tụ vợ chồng với anh T và đã bỏ mặc quan hệ hôn nhân này. Từ đó cho thấy, hôn nhân của anh T và chị X đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh T, cho anh T được ly hôn với chị Phạm Thị X.
[4] Về con chung: Căn cứ theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của anh T thì anh T và chị X có 02 người con chung là Nguyễn Hoàng T1, sinh ngày 30/5/2009 và Nguyễn Hoàng Y, sinh ngày 29/01/2023. Anh T yêu cầu giao con chung cho chị X tiếp tục nuôi. Chị X đã được Tòa án thông báo về việc anh T yêu cầu giao con chung cho chị X nuôi, nhưng chị X không có ý kiến gì đối với yêu cầu của anh T. Xét thấy, từ khi anh T và chị X ly thân đến nay, chị X trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1 và cháu Y, tuy nhiên, Tòa án không liên hệ được để lấy ý kiến của cháu T1. Đồng thời, căn cứ vào lời trình bày của anh T, hiện tại cháu T1 và cháu Y vẫn phát triển tốt. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, để bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của cháu T1 và cháu Y, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh T: Giao cháu Nguyễn Hoàng T1, sinh ngày 30/5/2009 và Nguyễn Hoàng Y, sinh ngày 29/01/2023 cho chị X tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
[5] Về cấp dưỡng: Xét thấy theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”. Anh T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng theo quy định pháp luật là phù hợp nên được chấp nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2024/NQQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân gia đình quy định: “2. ...Mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con”. Tại Điều 3 Nghị quyết số 74/NĐ-CP ngày 30/6/2024, quy định mức lương tối thiểu với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động và danh mục kèm theo thì thành phố L, tỉnh Đồng Nai, nơi anh T đang cư trú và làm việc thuộc khu vực I, có mức lương tối thiểu vùng/tháng là 4.960.000 đồng. Do đó, anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Hoàng T1, sinh ngày 30/5/2009 và Nguyễn Hoàng Y, sinh ngày 29/01/2023 với mức cấp dưỡng là 2.480.000 đồng/tháng/cháu cho đến khi cháu T1 và cháu Y tròn 18 tuổi, thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày xét xử sơ thẩm (ngày 20/8/2024).
[6] Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[7] Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí: Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng và án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng. Chị X không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào các Điều 19, 56, 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- 1. Về hôn nhân: Cho anh Nguyễn Thanh T ly hôn chị Phạm Thị X.
- 2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng T1, sinh ngày 30/5/2009 và Nguyễn Hoàng Y, sinh ngày 29/01/2023 cho chị X tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- 3. Về cấp dưỡng: Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Hoàng T1, sinh ngày 30/5/2009 và Nguyễn Hoàng Y, sinh ngày 29/01/2023 với mức cấp dưỡng là 2.480.000 đồng/tháng/cháu cho đến khi cháu T1 và cháu Y tròn 18 tuổi, thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày xét xử sơ thẩm (ngày 20/8/2024).
- 4. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- 5. Về án phí: Anh Nguyễn Thanh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không có giá ngạch là 300.000 đồng và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con. Anh T đã dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006799 ngày 12/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long nên được chuyển sang thu án phí 300.000 đồng, anh T còn phải nộp 300.000 đồng.
- 6. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Chị Phạm Thị X không phải chịu án phí.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Đẹp |
Bản án số 150/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 150/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
