Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – hạnh phúc

Bản án số: 150/2023/HS-ST

Ngày: 25-10-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Biểu;

Thẩm phán: Ông Trần Ngọc Lâm;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Hưng, ông Nguyễn Viết Thủy và bà Trần Thị Lan Hương.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Phùng Thị Lan - Kiếm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 140 /2023/TLST-HS ngày 01/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2023/QĐXXST- HS ngày 11/10/2023 đối với bị cáo:

* Nguyễn Văn T, sinh năm 1978 tại quận L, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT: số nhà B, ngõ C, đường N, tổ A, phường B, quận L, thành phố Hà Nội; Nơi ở: số nhà D, ngõ B đường L, tổ A, phường B, quận L, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1958 và bà Lê Thị H, sinh năm 1955; Gia đình bị cáo có 02 con, bị cáo là con thứ nhất; Có vợ là Lâm Thị X, sinh năm 1985 và có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2010; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 02/3/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H, có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

  • - Anh Trịnh Viết T1, sinh năm 1984; địa chỉ: P, Chung cư C, V, H, Hà Nội, (có mặt).
  • - Anh Trần Đình T2, sinh năm 1990; địa chỉ: thôn S, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên, (có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Chị Nguyễn Thị Thúy M, sinh năm 1983; địa chỉ: tổ E, phường B, quận L, Thành phố Hà Nội, (vắng mặt).
  • - Chị Hoàng Hoài T3, sinh năm 1994; địa chỉ: số nhà A, N, phường T, quận T, Thành phố Hà Nội, (có mặt).
  • - Anh Trần Văn T4, sinh năm 1991; địa chỉ: số B, ngõ B H, phường L, quận B, Thành phố Hà Nội, (vắng mặt).
  • - Chị Vũ Thị T5, sinh năm 1974; địa chỉ: số B N, khi đô thị V, phường P, quận L, Thành phố Hà Nội, (vắng mặt).
  • - Chị Lâm Thị X, sinh năm 1985; địa chỉ: số D ngõ L, phường B, quận L, Thành phố Hà Nội, (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1978 trú tại phường B, quận L, Thành phố Hà Nội lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định. Khoảng đầu năm 2022, T tự giới thiệu với Nguyễn Thị Thúy M (sinh năm 1983, trú tại phường B, quận L, Thành phố Hà Nội là Giám đốc kinh doanh - Công ty Cổ phần Đ1 rằng bản thân là cán bộ Thanh tra Bộ X1 có khả năng mua được suất ưu đãi ngoại giao (nghĩa là thấp hơn so với giá thị trường) căn hộ liền kề hoặc biệt thự tại dự án Vinhome D ở xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Do tin tưởng lời nói của T là thật, Nguyễn Thị Thúy M đã thông tin cho môi giới bất động sản là: Ngô Đình C, sinh năm 1991 trú tại tổ E, phường B, quận L, Thành phố Hà Nội; Hoàng Hoài T3, sinh năm 1994 trú tại phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ và Trần Văn T4, sinh năm 1991 ở xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình để tìm khách hàng đầu tư.

Ngày 12/01/2022 tại Công ty Cổ phần Đ1, thông qua môi giới bất động sản là anh Trần Văn T4, Nguyễn Văn T ký kết “Thỏa thuận đặt cọc thưởng phạt” với anh Trần Đình T2 đặt cọc số tiền 500.000.000 đồng để mua 01 căn liền kề thuộc Block (dãy) LK-E-29 hoặc LK-E-30 tại dự án Vinhomes D

Ngày 10, 12/01/2022 tại Công ty Cổ phần Đ1, thông qua môi giới bất động sản là chị Hoàng Hoài T3, Nguyễn Văn T ký kết “Thỏa thuận đặt cọc thưởng phạt” với anh Trịnh Viết T1 đặt cọc số tiền 1.000.000.000 đồng để mua 01 căn liền kề thuộc Block (dãy) LK-E-29 hoặc LK-E-30 và 01 căn liền kề thuộc Block (dãy) BT2-F04.

Toàn bộ số tiền nhận đặt cọc của anh Trần Đình T2 và anh Trịnh Viết T1, Nguyễn Văn T không đặt cọc. T đã sử dụng vào mục đích cá nhân.

Đến ngày 27/4/2022, khi chủ đầu tư (Công ty cổ phần V) chính thức mở bán, giao dịch các căn liền kề, căn biệt thự tại dự án V Dream City giá bán cao hơn giá T đã thỏa thuận với khách hàng nên vào ngày 08/5/2022, T tìm gặp chị Vũ Thị T5, sinh năm 1974 trú tại số B, N, khu đô thị V, phường P, quận L, Thành phố Hà Nội là đại diện của Công ty Cổ phần N để nhờ chị T5 đặt cọc cho đại lý ủy quyền của chủ đầu tư mua 01 căn tại dự án Vinhomes D, T đặt cho chị T5 300.000.000 đồng. Do không thỏa thuận được giá mua ưu đãi với đại lý ủy quyền, ngày 17/5/2022 chị T5 đã hoàn trả số tiền 300.000.000 đồng cho T. Số tiền này, Nguyễn Văn T đã sử dụng vào mục đích cá nhân.

Kết luận giám định số 260/KL-KTHS ngày 29/8/2023 của Phòng K - Công an tỉnh H kết luận: Chữ viết, chữ ký Nguyễn Văn T trên các thỏa thuận đặt cọc thưởng phạt là chữ ký, chữ viết của Nguyễn Văn T.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, người liên quan, người bị hại, kết quả sao kê tài khoản ngân hàng của Nguyễn Văn T tại ngân hàng TMCP Q (M1) và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Đối với chị Nguyễn Thị Thúy M, anh Ngô Đình C, chị Hoàng Hoài T3, anh Trần Văn T4, chị Vũ Thị T5 không biết Nguyễn Văn T đưa thông tin gian dối nhằm mục đích để chiếm đoạt tài sản của anh Trần Đình T2 và anh Trịnh Viết T1. Do vậy, không đủ căn cứ để xử lý.

Vật chứng của vụ án: 03 Hợp đồng “Thỏa thuận đặt cọc thưởng phạt” là vật chứng hiện đang được bảo quản theo hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự:

  • - Ngày 08/8/2022 và 18/11/2022 bị cáo Nguyễn Văn T đã trả cho anh Trần Đình T2 số tiền 500.000.000 đồng;
  • - Ngày 08/8/2022 và ngày 14/3/2023 bị cáo Nguyễn Văn T đã trả cho anh Trịnh Viết T1 số tiền 650.000.000 đồng. Số tiền còn lại 350.000.000 đồng, anh Trịnh Viết T1 yêu cầu Nguyễn Văn T tiếp tục phải thực hiện.

Đối với khoản tiền phạt, anh Trần Đình T2 và anh Trịnh Viết T1 không đề nghị.

Cáo trạng số 148/CT-VKS-P1 ngày 28/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Văn T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân và đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại anh Trần Đình T2 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hình phạt đối với bị cáo theo quy định của pháp luật; anh Trịnh Viết T1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền còn lại 350.000.000 đồng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hình phạt đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.

Đối với khoản tiền phạt và lãi suất, anh Trần Đình T2 và anh Trịnh Viết T1 không yêu cầu bị cáo phải thực hiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích đánh giá nguyên nhân, mục đích, điều kiện phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 13 năm 06 tháng đến 14 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải trả cho anh Trịnh Viết T1 số tiền còn lại là 350.000.000 đồng.

Vật chứng của vụ án: 03 Hợp đồng “Thỏa thuận đặt cọc thưởng phạt” được lưu theo hồ sơ vụ án.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất về án phí.

Bị cáo, các bị hại không tranh luận bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra - Công an tỉnh H và Điều tra viên; Viện kiểm sát Nhân dân tỉnh Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trước cơ quan điều tra, phù hợp khách quan với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Các chứng cứ đó là: Đơn tố cáo, Kết luận giám định về chữ ký, chữ viết trên các thỏa thuận đặt cọc thưởng phạt, sao kê tài khoản ngân hàng; lời khai của những bị hại, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng tháng 01/2022 Nguyễn Văn T không có khả năng mua căn hộ liền kề hoặc biệt thự tại dự án Vinhome D ở xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên nhưng Nguyễn Văn T đã đưa ra thông tin gian dối về việc bản thân mua được với giá ưu đãi ngoại giao (thấp hơn so với giá thị trường) để các bị hại tin tưởng, sau đó T nhận tiền đặt mua căn hộ liền kề và thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của anh Trần Đình T2 số tiền là 500.000.000 đồng và anh Trịnh Viết T1 số tiền là 1.000.000.000 đồng. Sau khi nhận tiền, Nguyễn Văn T không thực hiện thỏa thuận như đã cam kết mà sử dụng vào mục đích cá nhân. Tổng số tiền bị cáo lừa đảo chiếm đoạt là 1.500.000.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Văn T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi đưa thông tin không đúng sự thật để chiếm đoạt tài sản của những người bị hại nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự; số tiền bị cáo chiếm đoạt trên 500 triệu đồng, nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng trở lên”. Do vậy,

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, cần xét xử nghiêm minh, xử phạt bị cáo một mức hình phạt thoả đáng, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra, để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và làm bài học răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối để nhận tiền của 02 bị hại để chiếm đoạt và mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả 1.150.000.000 đồng cho các bị hại, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự nhân đạo nhưng vẫn đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội với động cơ vụ lợi, lẽ ra phải phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bản thân bị cáo không có tài sản gì lớn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn T đã chiếm đoạt tổng số tiền 1.500.000.000 đồng của các bị hại.

Bị cáo và gia đình bị cáo đã trả lại các bị hại gồm: Anh Trần Đình T2 đã nhận đủ số tiền là 500.000.000 đồng, anh T2 không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Anh Trịnh Viết T1 đã nhận số tiền là 650.000.000 đồng, anh T1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền còn lại là 350.000.000 đồng. Nên buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải trả lại cho anh Trịnh Viết T1 số tiền là 350.000.000 đồng.

Đối với khoản tiền phạt và tiền lãi, anh Trần Đình T2 và anh Trịnh Viết T1 không yêu cầu bị cáo phải thực hiện nên không xem xét.

[7]. Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Đối với 03 Hợp đồng “Thỏa thuận đặt cọc thưởng phạt” đang được bảo quản và lưu tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử, xét thấy đây là tài liệu chứng minh tội phạm, nên cần phải tiếp tục lưu tại hồ sơ vụ án.

[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 điều 38; Điều 46; Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 357; Điều 589 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.

[1]. Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 13 (mười ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/3/2023.

[2]. Về Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải trả cho cho anh Trịnh Viết T1 số tiền là 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu, nếu bị cáo không thi hành án về khoản bồi thường thì còn phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, mức lãi suất theo qui định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án và người phải Thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

[3]. Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Lưu 03 Hợp đồng Thỏa thuận đặt cọc thưởng phạt theo hồ sơ vụ án.

[4]. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 17.500.000 đồng (Mười bấy triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

[5]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 - TAND Tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Cq CSĐT- Công an tỉnh Hưng Yên;
  • - Trại tạm giam - CA tỉnh Hưng Yên;
  • - Bị cáo (qua TTG)
  • - Bị hại;
  • - Người có QL&NVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VPCQ, Tòa hình sự./

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Biểu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 150/2023/HS-ST ngày 25/10/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 150/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản số tiền 1.500.000.000 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger