Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁP MƯỜI

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 150/2024/DS-ST

Ngày: 20/8/2024

“V/v Tranh chấp về hợp đồng dịch vụ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI

TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Phường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Minh Hiền và bà Huỳnh Thị Kim Thơ.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Jét - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thảo Nguyên - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 03/5/2024, ngày 24/5/2024 và ngày 20/8/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 1045/2023/TLST-DS ngày 18/12/2023, về việc “Tranh chấp về hợp đồng dịch vụ”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2024/QĐXXST-DS ngày 09/4/2024, giữa:

  1. Nguyên đơn: Ông Lương Văn T, sinh năm 1957;
  2. Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  3. Bị đơn: Ông Mai Xuân L, sinh năm 1953;
  4. Địa chỉ: Ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

(Ông T có mặt; Ông L vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, ý kiến tại phiên tòa sơ thẩm ông T trình bày:

Vào năm 2007, ông có tham gia làm cổ đông của Trạm bơm Đốc Bình Kiều 3, có tất cả 13 cổ đông và do ông Phạm Văn Q làm trưởng trạm. Đến tháng 02/2011, Trạm bơm Đốc Bình K 3 làm ăn thua lỗ nên họp các cổ đông lại thống nhất giải thể và bán Trạm bơm Đốc Bình K 3 với giá 400.000.000 đồng. Khi đó, ông đứng ra mua lại và đã trả tiền xong cho 12 cổ đông còn lại. Do đó, kể từ đây thì Trạm bơm Đốc Bình Kiều 3 là của cá nhân ông. Đối với số tiền bỏ ra để mua lại Trạm bơm Đốc Bình Kiều 3 là tài sản của cá nhân ông, không phải là tài sản chung với bất kỳ ai. Trong quá trình hoạt động, ông là người trực tiếp bơm nước cho các hộ dân ở ấp 3 và 4, xã Đ, trong đó có đất của ông L. Từ năm 2021 đến năm 2022, ông có bơm nước tưới tiêu cho ông L 5 vụ, diện tích đất là 3.000m², giá bơm nước là 110.000 đồng/1.000m²/01 vụ, thành tiền là 1.650.000 đồng. Đến nay ông L vẫn chưa thanh toán số tiền trên cho ông.

Theo đơn khởi kiện thì ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông L phải trả cho ông số tiền nợ bơm nước là 1.650.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Nay, ông xin thay đổi yêu cầu là yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông L phải trả cho ông số tiền nợ bơm nước là 1.320.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Ngoài ra, ông không còn trình bày hoặc yêu cầu gì khác.

* Đối với ông L mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, phiên tòa sơ thẩm và cũng không có văn bản ý kiến gì.

* Ý kiến và đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười:

- Về việc bảo đảm việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử chấp hành tốt pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến tại thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, cũng như việc chấp hành các quy định về tố tụng dân sự và thực hiện các quyền, nghĩa vụ về tố tụng dân sự của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án được thực hiện đúng và đầy đủ nên Viện kiểm sát không có ý kiến, kiến nghị gì.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào Điều 519 của Bộ luật dân sự; Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Chấp nhận yêu cầu của ông Lương Văn T buộc ông Mai Xuân L trả 80% nợ thủy lợi phí 05 vụ với giá 110.000 đồng/1.000m²/vụ trên diện tích 3.000m² với số tiền là 1.320.000 đồng [80% x (110.000 đồng/1.000m²/vụ x 5 vụ x 3.000m² = 1.650.000 đồng) = 1.320.000 đồng].
  • + Đình chỉ 01 phần yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn T đối với giá 20% thủy lợi phí ông L còn nợ (20% x 1.650.000 đồng) 330.000 đồng do rút yêu cầu.
  • + Buộc ông L chịu án phí theo quy định.

* Các tình tiết, sự kiện trong vụ án các bên đương sự thống nhất: Không.

* Các tình tiết mà các bên đương sự không thống nhất: Toàn bộ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật: Ông T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông L phải trả cho ông T số tiền nợ bơm nước là 1.320.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Ngoài ra, các đương sự không ai có yêu cầu nào khác nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về hợp đồng dịch vụ” theo quy định tại Điều 513 của Bộ luật dân sự.

[2] Về thẩm quyền: Tranh chấp trên giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn hiện nay đang cư trú tại ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về tố tụng:

- Theo quyết định tạm ngưng phiên tòa thì Hội thẩm nhân dân là ông Lê Văn V và bà Hồ Thị T1. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm do ông V và bà T1 bận đi công việc đột xuất nên không thể tham gia phiên tòa thay thế bằng ông Nguyễn Thanh Minh H và bà Huỳnh Thị Kim T2 là Hội thẩm nhân dân dự khuyết. Đương sự có mặt thống nhất đồng ý việc thay đổi này và không có khiếu nại gì. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

- Đối với ông L vắng mặt nhiều lần không có lý do chính đáng. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với ông L.

- Theo đơn khởi kiện thì ông T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông L phải trả cho ông T số tiền nợ bơm nước là 1.650.000 đồng, không yêu cầu tính lãi. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T tự nguyện giảm số tiền yêu cầu (Chỉ yêu cầu tương đương 80%) với số tiền là 1.320.000 đồng. Xét thấy, đây thuộc trường hợp nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, vì nay ông T yêu cầu trả số tiền thấp hơn yêu cầu ban đầu và trong cùng quan hệ pháp luật. Từ những phân tích trên, xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười về việc đình chỉ 01 phần yêu cầu khởi kiện của ông T đối với số tiền 330.000 đồng do rút yêu cầu là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Ông T là Trưởng Trạm bơm Đ1 (Hoạt động với tư cách là tư nhân). Theo đó, ông T thực hiện việc bơm, điều tiết nước cho ô đê bao này và thu tiền công của các hộ dân có đất sản xuất trong ô đê bao này với giá 110.000 đồng/1.000m²/vụ đối với đất trồng lúa. Theo danh sách đo đạc thực tế diện tích đất sản xuất trong Trạm bơm Đốc Binh Kiều 3 của Ủy ban nhân dân xã Đ đã xác nhận ông L (Trong danh sách ghi Mai Văn L1) có diện tích đất tổng cộng là 17.000m², về việc này phù hợp với lời trình bày của ông T và ông H1 (Trưởng ấp D, xã Đ). Do đó, có đủ cơ sở xác định ông L1 có diện tích đất sản xuất tổng cộng là 17.000m²nằm trong phạm vi hoạt động của Trạm bơm Đốc Bình Kiều 3.

- Ông T cho rằng vào các vụ Hè Thu, Thu Đ của năm 2020 và vụ Đông X, Hè T3, Thu Đ của năm 2021 thì ông T đã thực hiện việc bơm nước tưới tiêu đầy đủ và ông L1 có sử dụng nước của Trạm bơm Đốc Bình K 3 nhưng đến nay ông L1 chỉ trả diện tích 14.000m², còn lại 3.000m² thì đến nay vẫn chưa trả cho ông T. Xét thấy, lời trình bày của ông T là cơ sở và việc ông T đã thực hiện việc bơm nước tưới tiêu cho các hộ dân có đất sản xuất trong ô đê bao Trạm bơm Đốc Bình Kiều 3 (Trong đó, có đất ông L1) vào các vụ lúa trên là có thật, thể hiện qua “Thông báo lịch tưới tiêu vụ Đông Xuân năm 2020 - 2021 và Thông báo lịch tưới tiêu vụ 3 năm 2021”. Đồng thời, tại Biên bản lấy lời khai ngày 02/8/2024 của Tòa án thì người làm chứng ông H1 (Trưởng ấp D, xã Đ) cũng xác nhận ông T có thực hiện việc bơm nước tưới tiêu và ông L1 có canh tác lúa trên diện tích của mình. Đối với ông L1 mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhưng không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, các phiên tòa sơ thẩm và cũng không có văn bản ý kiến đồng ý hay phản đối gì đối với lời trình bày và yêu cầu của ông T. Đây là hợp đồng dịch vụ, phía ông T (Bên cung ứng dịch vụ) đã thực hiện đầy đủ việc bơm nước cho Trạm bơm Đốc Bình Kiều 3, còn phía ông L1 (Bên sử dụng dịch vụ) tính đến nay chưa trả số tiền dịch vụ trên là vi phạm nghĩa vụ trả tiền của bên sử dụng dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ theo quy định tại Điều 513 và Điều 515 của Bộ luật dân sự.

Từ những phân tích trên, xét yêu cầu khởi kiện của ông T là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Đối với các đương sự còn lại không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

[6] Tại phiên tòa sơ thẩm, đương sự có mặt xác định ngoài lời trình bày và các chứng cứ đã nộp cho Tòa án ra thì đương sự có mặt không còn chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu của mình và cũng không yêu cầu Tòa án thu thập thêm chứng cứ nào khác. Ngoài ra, cũng không còn yêu cầu gì khác.

[7] Về án phí:

- Ông T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Đồng thời, ông T thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí quy định tại điểm đ Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

- Ông L1 phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[8] Về ý kiến và đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười:

- Về việc bảo đảm việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử chấp hành tốt pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến tại thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, cũng như việc chấp hành các quy định về tố tụng dân sự và thực hiện các quyền, nghĩa vụ về tố tụng dân sự của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án được thực hiện đúng và đầy đủ, nên Viện kiểm sát không có ý kiến, kiến nghị gì. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

- Về đề nghị nội dung giải quyết vụ án thì từ những phân tích trên, xét đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ 01 phần nên Hội đồng xét xử chấp nhận 01 phần. Phần đề nghị không được chấp nhận là đình chỉ 01 phần yêu cầu khởi kiện của ông T đối với giá 20% thủy lợi phí ông L1 còn nợ (20% x 1.650.000 đồng) 330.000 đồng do rút yêu cầu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 513, Điều 515 và Điều 519 của Bộ luật dân sự; Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 235, Điều 244, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn T.
    • - Buộc ông Mai Xuân L phải có nghĩa vụ trả lại cho ông Lương Văn T số tiền nợ dịch vụ bơm nước là 1.320.000 đồng (Một triệu, ba trăm hai mươi nghìn đồng).
    • - Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (Đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), bên phải thi hành án chưa thi hành xong thì hàng tháng còn phải chịu lãi bằng 50% mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án đến khi thi hành án xong.
  2. Về án phí:
    • - Ông T không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Đồng thời, ông T thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí quy định tại điểm đ Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
    • - Ông L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
  4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh;
  • - VKSND Huyện;
  • - CCTHADS Huyện;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án: (Jet).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Phường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 150/2024/DS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về hợp đồng dịch vụ

  • Số bản án: 150/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng dịch vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger