Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐIỆN BIÊN

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 150/2024/HS-ST

Ngày: 18/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Quàng Văn Minh
  2. Ông Mùa A Phềnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nông Quốc Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 153/2024/TL-HSST ngày 22 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 156/2024/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lường Văn P; Tên gọi khác: Không có; Sinh năm: 1999, tại Điện Biên; Nơi cư trú trước khi bị bắt: Bản Mé, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lường Văn T và con bà: Quàng Thị P1; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 31/12/2020 P bị Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 15 tháng tù. Đến ngày 22/11/2021 chấp hành xong hình phạt tù. Bản án này đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/3/2024, sau đó bị tạm giam cho đến nay - Có mặt tại phiên tòa.

* Người có nghĩa vụ liên quan: Anh Lường Văn L - Sinh năm: 2000; Địa chỉ: Bản H, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên (Vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 26/3/2024 Lường Văn P đi bộ một mình từ nhà ở bản M, xã T, huyện Đ đi tìm mua ma túy. Khi đến bản N, xã T, huyện Đ, P gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc T1 khoảng 35 tuổi (không biết tên, địa chỉ) 01 gói Heroine với giá 350.000 đồng. Mua xong, P cầm gói H đi về. Về đến nhà P dùng tay cấu, chia nhỏ số Heroine vừa mua thành 04 gói Heroine. Cùng ngày, P đã lấy 01 gói ra sử dụng hết bằng hình thức hít (chiếc bật lửa và giấy bạc dùng xong P đã vứt đi), số ma túy còn lại P cất giấu ở túi quần bên phải mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Khoảng 10 giờ ngày 27/3/2024, khi P đang ở nhà thì Lường Văn L (sinh năm 2000, trú tại bản H, xã T, huyện Đ) đến nhà hỏi mua Heroine của P, nên P đã lấy 01 gói Heroine từ túi quần bên phải ra bán cho L với giá 50.000 đồng. Số tiền bán ma túy mà có thì P cất vào túi quần bên trái đang mặc. Số ma túy mua được L ra khu vực bãi tha ma thuộc xã T, huyện Đ đã sử dụng hết bằng hình thức chích. Hồi 10 giờ 15 phút ngày 27/3/2024, khi P đang ở nhà thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy, Công an huyện Đ và Công an xã T, huyện Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại túi quần bên phải đang mặc của P 02 gói Heroine được gói ngoài bằng nilon màu hồng, bên trong là lớp giấy bạc màu vàng có tổng khối lượng 0,16 gam và thu giữ tại túi quần bên trái của P 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng tiền bán Heroine cho L.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng ngày 27/3/2024 đã xác định: Khối lượng toàn bộ số cục màu trắng nghi Heroine có tổng khối lượng là 0,16 gam, gửi toàn bộ giám định.

Tại Bản kết luận giám định số: 605/KL-KTHS ngày 02/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Vật chứng thu giữ của Lường Văn P có khối lượng 0,16 gam là chất ma túy: Loại H (H). H1 lại đối tượng giám định, có biên bản đóng gói, niêm phong và giao nhận lại đối tượng giám định kèm theo.

Tại Bản kết luận giám định số: 628/KL-KTHS ngày 03/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) có mã số hiệu: YK 21604089 là tiền thật.

Tại biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 04/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ: H1 lại mẫu sau khi giám định là: 0,12 gam được cho vào túi nilon màu trắng và toàn bộ bao bì niêm phong cũ. H1 lại mẫu sau khi giám định là: 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) có mã số hiệu: YK 21604089.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định trên của phòng K Công an tỉnh Đ.

Về vật chứng của vụ án: Ngày 21/5/2024 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã chuyển vật chứng của vụ án sang cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên gồm: 0,12 gam Heroine, 02 mảnh nilon màu hồng, 02 mảnh giấy bạc màu vàng kèm theo 02 phong bì niêm phong ban đầu và số tiền 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng).

2

Bản cáo trạng số: 97/CT-VKSHĐB ngày 21/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lường Văn P về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • * Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lường Văn P với mức hình phạt từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  • * Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,12 gam Heroine còn lại sau khi giám định và 02 mảnh nilon màu hồng, 02 mảnh giấy bạc màu vàng kèm theo là vật chứng của vụ án. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 50.000 đồng là tiền do bị cáo phạm tội mà có.

  • * Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lường Văn P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên. Thực hiện lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa Lường Văn P hoàn toàn thừa nhận vào hồi 10 giờ 15 phút ngày 27/3/2024 tại nhà ở của mình ở bản M, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Lường Văn P đã có hành vi cất giấu trái phép tại túi quần bên phải đăng mặc 0,16 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân và bán lẻ. Ngoài ra, trước đó Lường Văn P đã có hành vi bán trái phép 01 gói Heroine cho Lường Văn L thu được số tiền 50.000 đồng.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và Biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra tiến hành thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Mua bán trái phép chất ma túy" quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, bản luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

3

Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”

Lường Văn P là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Từ những phân tích trên, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Lường Văn P về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội và có căn cứ pháp luật.

[2] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Xét hành vi trên của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, bởi nó đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Vì vậy, việc truy tố, xét xử và áp dụng mức hình phạt thỏa đáng đối với bị cáo là cần thiết có như vậy mới có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa các loại tội phạm về ma túy nói chung.

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Trong vụ án này bị cáo Lường Văn P không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu bởi trước đó bị cáo đã từng có 01 tiền án nhưng đã được xóa án tích, cụ thể: Tại Bản án số: 50/2020/HSST ngày 31/12/2020 P bị Tòa án nhân dân thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 15 tháng tù. Đến ngày 22/11/2021 chấp hành xong hình phạt tù và trở về địa phương sinh sống. Nguyên nhân dẫn đến phạm tội là do bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sử dụng ma túy từ năm 2018 cho đến nay, vì muốn có ma túy để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời nên bị cáo đã bất chấp pháp luật dấn thân vào con đường phạm tội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, để thể hiện sự khoan hồng của Đảng, Pháp luật của Nhà nước ta đối với người phạm tội, Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời đây cũng là điều kiện thuận lợi để bị cáo từ bỏ được ma túy sớm trở lại hòa nhập với gia đình và cộng đồng.

Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Ngoài hình phạt chính, theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu một

4

phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy từ nhiều năm nay, thu nhập từ nghề làm ruộng thấp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản đối với bị cáo.

[4] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Công an huyện Đ; Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[5] Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử cần: Tịch thu tiêu hủy 0,12 gam Heroine còn lại sau khi giám định và 02 mảnh nilon màu hồng, 02 mảnh giấy bạc màu vàng kèm theo là vật chứng của vụ án và 02 phong bì niêm phong của Phòng K Công an tỉnh Đ. Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 50.000 đồng là tiền do bị cáo phạm tội mà có.

[6] Về các vấn đề khác: Đối với Lường Văn L là người đã mua của bị cáo 01 gói Heroine vào ngày 27/3/2024, cùng ngày cơ quan điều tra đã triệu tập lấy lời khai của L, L hoàn toàn thừa nhận hành vi vi phạm của mình, sau đó L vắng mặt tại địa bàn cho đến nay, chính quyền địa phương và gia đình L không biết L đi đâu, làm gì. Do vậy, cơ quan điều tra không đề cập xử lý L trong vụ án này. Mặt khác, số ma túy của L mua của P, L đã sử dụng hết nên cơ quan điều tra Công an huyện Đ không có căn cứ để xác định khối lượng chất ma túy. Vì vậy, không có cơ sở xem xét xử lý P đối với số ma túy đã bán cho L.

[7] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lường Văn P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự Tuyên bố bị cáo Lường Văn P phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo: Lường Văn Phúc 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (27/3/2024).

    Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình

5

sự và điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

  • + Tịch thu tiêu hủy 0,12 gam Heroine còn lại sau khi giám định và 02 mảnh nilon màu hồng, 02 mảnh giấy bạc màu vàng kèm theo là vật chứng của vụ án và 02 phong bì niêm phong của Phòng K Công an tỉnh Đ.

  • + Tịch thu, nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) là tiền do bị cáo phạm tội mà có.

Vật chứng đã được Công an huyện Đ bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/5/2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lường Văn P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  2. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo Lường Văn P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (18/6/2024).

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát huyện ĐB;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Điện Biên;
  • - HSNV Công an huyện ĐB;
  • - CQĐT Công an huyện ĐB;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện ĐB;
  • - Bị cáo;
  • - Chi cục Thi hành án DSHDB;
  • - Toà án tỉnh Điện Biên;
  • - Sở tư pháp tỉnh ĐB;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Hồ sơ THA hình sự;
  • - Lưu VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Vũ Thị Tuyến

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 150/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 150/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lường Văn Ph
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger