|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ TỈNH SƠN LA Bản án số: 150/2024/HS - ST Ngày 16 - 5 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung.
Các hội thẩm nhân dân.
- Ông Quàng Văn Tiện.
- Ông Trần Thành Vân.
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Phương Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Quàng Văn Cuộc - Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 150/2024/HSST ngày 19 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2024/QĐXXST - HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn C - Sinh năm 1997; Nơi cư trú: Bản P, xã S, huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi ở hiện tại: Bản K, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Lò Văn K1 và bà Lò Thị K2; Bị cáo có vợ là Cầm Thị Kế T và có 01 con (sinh năm 2023); Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 14/4/2020 bị Công an huyện Sông Mã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 17/01/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lường Thị M1, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Bản B, xã S, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 45 phút, ngày 17/01/2024 tổ công tác Công an xã Y làm nhiệm vụ tại bản K3, xã T1, M phát hiện Lò Văn C có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; thu giữ tại túi quần phía trước bên trái của C đang mặc 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa chất bột liên kết màu trắng và 02 mảnh viên nén màu hồng, C khai nhận là Heroine và Hồng phiến mua về sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với C, thu giữ vật chứng nghi ma túy. Ngoài ra, còn tạm giữ của C 01 xe mô tô, loại xe Win nhãn hiệu MERITUS, có BKS 26B1-244.68.
Ngày 18/01/2024, tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã đã tiến hành mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng vật chứng và trích mẫu giám định vật chứng nghi là ma túy thu giữ của C, kết quả: Số chất bột liên kết màu trắng có khối lượng là 0,11 gam, đã trích toàn bộ làm mẫu giám định ký hiệu C1; 02 mảnh viên nén màu hồng có tổng khối lượng là 0,05 gam, sử dụng hết làm mẫu giám định ký hiệu C2.
Kết luận giám định số 383/KL-KTHS ngày 19/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:
“Mẫu ký hiệu C1 gửi giám định là ma túy; Loại Heroine (Heroin); có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,11 gam.
Mẫu ký hiệu C2 gửi giám định là ma túy; Loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,05 gam.
Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,11 gam loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; 0,05 gam loại Methamphetamine”.
Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Khoảng 11 giờ, ngày 17/01/2024 Lò Văn C đi bộ từ nhà bố mẹ đẻ ở bản P, xã S, huyện M đến nhà chị Lường Thị M1 ở bản B, xã S, M mượn xe mô tô có BKS 26B1-244.68 của gia đình chị M1 nói đi mua đồ ăn. Sau khi mượn được xe, C điều khiển xe đến nhà ở của C tại bản K, xã N, M rồi tiếp tục đi lên nhà bố mẹ vợ tại bản P1, xã N ăn cơm trưa. Sau khi ăn cơm xong, C đem theo số tiền 50.000đ điều khiển xe mô tô từ bản Nà Pàn, xã N, huyện M đến bản N3, xã T1, huyện M để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến nơi, C gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết đang đi bộ trên đường, C dừng xe nói chuyện và hỏi mua ma túy loại Hồng phiến và Heroine, người Mông nói có bán và hỏi C mua bao nhiêu tiền, C đưa cho người đàn ông số tiền 50.000đ, người này nhận tiền rồi lấy từ trong người ra 01 gói nilon màu trắng nói bên trong chứa 02 mảnh viên Hồng phiến và Heroine đưa cho C, C nhận gói ma túy và cất trong túi quần bên trái đang mặc rồi điều khiển xe về. Khi về đến khu vực bản K3, xã T1 thì bị tổ công tác Công an xã Y làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng, tài sản như đã nêu.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 94/CT-VKSSM ngày 17 tháng 4 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Lò Văn C về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Lò Văn C từ 01 năm 04 tháng - 01 năm 10 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung. Xử lý vật chứng: số ma túy đã được sử dụng làm mẫu gửi giám định hết, còn lại 01 mảnh nilon, 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. Chấp nhận việc CQCSĐT đã trả lại xe mô tô cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày tại phiên tòa như sau: Chị là người quen bị cáo C, chiếc xe thu giữ trong vụ án là tài sản C của gia đình chị. Khi bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy chị không hay biết, chị đã được CQCSĐT trả lại xe, chị nhất trí và không có ý kiến gì.
Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận gì, nhất trí với ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, xin được miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Sông Mã, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng M1 bằng các căn cứ sau
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 17 giờ 50 phút, ngày 17/01/2024 đối với Lò Văn C cùng vật chứng bị thu giữ là gói nilon có chứa chất bột màu trắng và 02 mảnh viên nén màu hồng; Kết luận giám định số 383/KL-KTHS ngày 19/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận là ma túy: “... Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,11 gam loại Heroine (Heroin), ...; 0,05 gam, loại Methamphetamine”.
- Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có thay đổi, bổ sung gì về lời khai làm thay đổi nội dung vụ án và khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 17/01/2024 khi bị cáo đang có hành vi tàng trữ 0,11 gam ma túy loại Heroine và 0,06 gam ma túy loại Methamphetamine (tổng khối lượng hai chất là 0,16 gam) mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt từ “01 năm đến 05 năm tù”.
Như vậy, nội dung truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật
-
Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tại phiên toà và tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân xấu, bản thân đã từng bị xử phạt về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cảnh tỉnh giáo dục bản thân, cho thấy tính khó giáo dục, cải tạo và ý thức coi thường pháp luật của bị cáo.
-
Về tính chất của vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.
Vì vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và khối lượng ma túy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội để đưa ra một mức án phù hợp nhất, nhằm giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và cũng đảm bảo biện pháp răn đe, phòng ngừa C, góp phần thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
-
Về vật chứng vụ án:
Số ma túy đã sử dụng làm mẫu gửi giám định hết, còn lại 01 mảnh nilon, 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
-
Về các vấn đề khác có liên quan trong vụ án:
Đối với người đàn ông bị cáo khai là người đã bán ma túy cho bị cáo, nhưng bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã không có căn cứ để mở rộng điều tra vụ án là đúng.
Đối với chiếc xe mô tô có BKS 26B1-244.68 thu giữ khi bắt quả tang đối với bị cáo, xác định được là tài sản hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho bị cáo mượn. Khi bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không biết nên CQCSĐT đã trả lại xe là đúng.
- Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn và đã xin miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định C.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
-
Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Lò Văn C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Lò Văn C 01 năm 08 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
-
Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. Tất cả được đựng trong 01 phong bì được niêm phong, dán kín theo đúng quy định của pháp luật. Trên giấy niêm phong ở mặt sau phong bì có mã số 0021331.
Theo Quyết định chuyển vật chứng số 93/QĐ – VKS ngày 17/4/2024 của VKSND huyện Sông Mã và theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/4/2024 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.
Chấp nhận việc CQCSĐT đã trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 01 xe mô tô có Biển kiểm soát 26B1-244.68.
-
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 16/5/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Nhung |
|
Thành viên Hội đồng xét xử |
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa |
|
Trần Thành Vân |
Hoàng Thị Nhung |
|
Quàng Văn Tiện |
Bản án số 150/2024/HS - ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 150/2024/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phát hiện bắt quả tang đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng
