Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỦY NGUYÊN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 150/2024/HS-ST

Ngày 15-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Minh Huế

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Công Hạ

Bà Nguyễn Thị Vân

àng Phong - Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên là điểm cầu trung tâm và tại Trại tạm giam Công an thành phố H là điểm cầu thành phần, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 136/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 và Thông báo về việc bổ sung người bào chữa số: 48/2024/TB-TA ngày 06 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Lữ Văn C, sinh ngày 14 tháng 5 năm 1999 tại Nghệ An. Nơi ĐKHK: Bản X, xã Y, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi ở: Thôn H, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Khơ mú; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lữ Văn T và bà Lô Thị B; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt ngày 15 tháng 4 năm 2024, bị tạm giữ ngày 16 tháng 4 năm 2024, bị tạm giam từ ngày 25 tháng 4 năm 2024 đến nay; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Hồng T1, Trợ giúp viên pháp lý- Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 22 giờ 15 ngày 15 tháng 4 năm 2024, Công an xã T kết hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện T Lữ Văn C có biểu hiện nghi vấn cất giấu trái phép chất ma túy. Tiến hành kiểm tra, lực lượng Công an thu giữ 01 ví giả da màu nâu 02 gói giấy màu trắng đều chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy) tại túi quần phía sau bên phải của Lữ Văn C. Tổ công tác đã đưa C cùng vật chứng thu giữ về trụ sở Công an xã T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Khám xét khẩn cấp nơi ở và khu vực có liên quan của Lữ Văn C, cơ quan Công an không thu giữ được tài liệu, đồ vật gì có liên quan đến vụ án.

Tại bản Kết luận giám định số 471/KL-KTHS ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Lữ Văn C là ma túy, có khối lượng 0,22 gam, là loại Heroine.

Tại Cơ quan điều tra, Lữ Văn C khai: Do nghiện ma túy nên C thường xuyên đi mua ma túy Heroine về sử dụng. Khoảng 17 giờ ngày 15 tháng 4 năm 2024, Chành bắt xe ôm từ khu vực công trường đảo V sang khu vực chân cầu X thuộc quận H, thành phố Hải Phòng. Khi đến nơi, C bảo người xe ôm đứng đợi rồi một mình đi tới khu vực bờ sông. Tại đây, C gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 02 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng/gói, hết số tiền 400.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, C cất giấu ma túy vào ví giả da màu nâu để trong túi quần phía sau bên phải của C rồi đi ra chỗ người lái xe ôm bảo chở về huyện T. Khi đến xã T, C xuống xe trả tiền xe ôm rồi đi tới khu vực thôn D, xã T tìm nơi vắng người để sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang thu giữ vật chứng như trên.

Tại phiên tòa, bị cáo Lữ Văn C khai nhận hành vi cất giấu trái phép 0,22 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang. Bị cáo nhận thức hành vi phạm tội của mình là sai và mong Hội đồng xét xử xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Số tiền bị cáo dùng để mua ma túy là do bị cáo lao động mà có; ví giả da màu nâu là của bị cáo, bị cáo không yêu cầu nhận lại.

Tại Cáo trạng số 157/CT-VKSTN ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố bị cáo Lữ Văn C về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Sau phần xét hỏi công khai tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Lữ Văn C phạm tội: "Tàng trữ trái phép chát ma túy", Xử phạt bị cáo Lữ Văn C từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày bị bắt. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, vỏ bao bì, ví giả da màu nâu. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016 miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Lữ Văn C phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo: Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo sinh ra và trưởng thành ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, nơi còn nhiều hủ tục lạc hậu nên nhận thức pháp luật của bị cáo còn nhiều hạn chế, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ không lớn để áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa của bị cáo Lữ Văn C trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về tội danh: Lời khai của bị cáo Lữ Văn C tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai những người chứng kiến, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với Kết luận giám định số 471/KL-KTHS ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định: Khoảng 23 giờ ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại khu vực thôn D, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng, bị cáo Lữ Văn C đã có hành vi cất giấu trái phép 0,22 gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Theo Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính Phủ thì H là chất ma túy thuộc danh mục I, STT 09, danh mục các chất ma túy do Chính phủ ban hành. Bị cáo Lữ Văn C là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi cất giấu 0,22 gam ma túy Heroine trái phép mục đích để sử dụng của bị cáo Lữ Văn C đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố và đề nghị áp dụng đối với bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
  3. Về nhân thân và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lữ văn C1 có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Bị cáo C1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  4. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về việc người bào chữa cho bị cáo có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vì bị cáo cư trú ở vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, nơi còn nhiều hủ tục lạc hậu nhận thức pháp luật hạn chế, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ không lớn không có căn cứ chấp nhận.
  5. Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội. Việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý không chỉ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, trí lực của con người, mà từ ma túy đã làm phát sinh nhiều tội phạm khác. Chính vì vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
  6. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng, thuộc hộ nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  7. Về vật chứng: Lượng ma túy còn lại sau giám định 0,10 gam và vỏ bao bì được niêm phong trong một phong bì, dấu niêm phong số 471MT/PC09. Ma túy là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, vỏ bao bì, một ví giả da màu nâu thuộc sở hữu của bị cáo, tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu nhận lại, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
  8. Trong vụ án này không làm rõ được người bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Lữ Văn C nên không có căn cứ xử lý.
  9. Về án phí: Bị cáo Lữ Văn C bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Song bị cáo thuộc hộ nghèo, là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn án phí cho bị cáo.
  10. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Lữ Văn C có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn pháp luật quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • -Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Lữ Văn C phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Lữ Văn C 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo Lữ Văn C tính từ ngày 15 tháng 4 năm 2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lữ Văn C.
  • - Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu hủy: Một bì giấy dấu niêm phong số 471MT/PC09 chứa 0,10 gam Heroine và vỏ bao bì còn lại sau giám định, 01 ví giả da màu nâu.

    (Đặc điểm vật chứng theo Biên Bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25 tháng 7 năm 2024, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên).

  • - Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội ban hành ngày 30 tháng 12 năm 2016: Miễn số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lữ Văn C.
  • - Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  • Trong trường hợp bản án được thi hành án tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP. Hải Phòng;
  • - Viện KSND TP. Hải Phòng;
  • - Viện KSND huyện Thủy Nguyên;
  • - Cơ quan CSĐTCAH Thủy Nguyên;
  • - Trại tạm giam Công an TPHP;
  • - Sở Tư pháp HP; Bị cáo;
  • - Chi cục THADSH Thủy Nguyên;
  • - Lưu: VT, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Minh Huế

6

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thúy Mở

Hoàng Đắc Hân

Trương Minh Huế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 150/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 150/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự về ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger