Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 150/2024/HS-ST

Ngày: 15 - 4- 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Gái.
  2. Bà Nguyễn Hương Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Duy – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2024/HSST ngày 05 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 143/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Phục Q, sinh năm: 1977, tại Long An; nơi thường trú: Số A đường N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Số A đường N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Tự do; con ông Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1952 và bà Võ Thị L, sinh năm 1952; bị cáo là con thứ 03 trong gia đình có 07 anh chị em; tiền án, tiền sự: Không.
  2. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

  3. Trần Thị L1, sinh năm: 1980, tại Bến Tre; nơi thường trú: Số G, Đường A, Tổ A, Khu phố C, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Số G, Đường A, Tổ A, Khu phố C, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Nội trợ; con ông Trần Hy S (©) và bà Diêm Thị G (©); bị cáo là con út trong gia đình có 05 anh chị em; chồng: Lương Tấn T, sinh năm 1970 và có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không.
  4. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

  5. Nguyễn Thị Ngọc Y, sinh năm: 1977, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: 06.02 chung cư A, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 6/5 Hẻm C, đường T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; trình độ học vấn: 0/12; nghề nghiệp: Nội trợ; con ông Nguyễn Văn T1 (©) và bà Huỳnh Lệ H, sinh năm 1951; bị cáo là con đầu trong gia đình có 03 chị em; tiền án, tiền sự: Không.
  6. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 20 phút ngày 30/3/2023, Nguyễn Phục Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Air Blade, biển kiểm soát 55Z8-0618 đang lưu thông trên đường M, phường A, thành phố T thì bị Tổ tuần tra kiểm soát 363, Công an thành phố T dừng xe kiểm tra hành chính thì Q khai nhận có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số đề và còn lưu giữ phơi trong điện thoại di động hiện đang cất giữ trong người nên Tổ công tác lập biên bản và giao cho Công an phường A theo quy định.

Quá trình điều tra chứng minh được: Nguyễn Phục Q quen biết với bà Nguyễn Thị Ngọc Y, còn bà Y quen biết với bà Trần Thị L1. Do có nhu cầu đặt số đề nhưng không biết chỗ ghi nên Q nói với Y có quen biết thì giới thiệu cho Q. Vào khoảng cuối tháng 2 năm 2023, bà Y gặp L1 hỏi có ghi số đề không thì L1 đồng ý ghi và tự thắng thua với Q. Sau đó Y nói lại với Q thì Q đồng ý đặt số với L1 thông qua Y.

Hình thức ghi số đề, cách thu tiền và tính thắng thua như sau: Số tiền ghi số đề, Q và L1 quy ước với nhau trong ngày Q ghi số đề bao nhiêu tiền thì L1 sẽ thu 75%/tổng số tiền đặt. Đài miền N và đài miền B: Số đầu và số đuôi, số lô 02 số tỉ lệ 1 trúng 75. Số lô 03 số, số đá tỉ lệ 1 trúng 650. Riêng xỉu chủ tỉ lệ 1 trúng 6500. Nếu trúng thì số tiền đặt bao nhiêu cứ thế nhân lên. Qua điều tra xác định các lần Q ghi số đề với Trần Thị L1 thông qua Nguyễn Thị Ngọc Y đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự như sau:

  • Ngày 21/3/2023, ghi số đề đài miền N (Bến Tre) và đài miền B với tổng số tiền: 11.670.000 đồng.
  • Ngày 22/3/2023, ghi số đề đài miền B với tổng số tiền 10.227.000 đồng.
  • Ngày 29/3/2023, ghi số đề đài miền B với tổng số tiền 5.295.000 đồng.
  • Ngày 30/3/2023, ghi số đề đài miền B với tổng số tiền 5.550.000 đồng.

Thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 là điện thoại của Nguyễn Phục Q dùng vào việc đánh bạc nên chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức bảo quản theo quy định.

Cáo trạng số: 22/CT-VKS-TPTĐ ngày 29/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Phục Q, Trần Thị L1Nguyễn Thị Ngọc Y về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Phục Q: Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị L1: Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Y: Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.
  • - Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu điện thoại của bị cáo Q sử dụng vào việc phạm tội; sung vào ngân sách nhà nước số tiền các bị cáo đã nộp khắc phục hậu quả.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng truy tố và luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Tất cả các bị cáo đều đã nhận ra lỗi lầm của mình, rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo có cơ hội sửa đổi, làm ăn chân chính để nuôi gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  • [1] Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.
  • [2] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, người liên quan, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Vì động cơ vụ lợi bất chính nên trong khoảng thời gian từ ngày 21/3/2023 đến ngày 30/3/2023 trên địa bàn thành phố T, Nguyễn Phục Q có hành vi ghi số đề thắng thua bằng tiền 04 lần đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự với Trần Thị L1 thông qua Nguyễn Thị Ngọc Y làm trung gian. Số tiền đánh bạc thấp nhất là 5.295.000 đồng và cao nhất là 11.670.000 đồng.
  • Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, cố ý vi phạm pháp luật, xâm phạm đến trật tự, nếp sống văn minh của xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự quản lý của Nhà nước và là nguy cơ dẫn đến các tệ nạn xã hội khác. Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi đánh bạc là tệ nạn xã hội bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì động cơ vụ lợi, muốn có tiền để tiêu xài nên đã cố ý thực hiện 04 lần hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc thấp nhất là 5.295.000 đồng và cao nhất là 11.670.000 đồng. Hành vi của các bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  • Vụ án có đồng phạm nhưng giản đơn, trong đó bị cáo Nguyễn Phục Q thực hiện hành vi ghi số đề với bị cáo Trần Thị L1, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Y làm trung gian, có vai trò giúp sức cho bị cáo Q và L1 thực hiện hành vi nên Hội đồng xét xử cũng xem xét vai trò cũng từng bị cáo trong vụ án để quyết định hình phạt tương xứng.
  • [3] Về tình tiết định khung hình phạt:
  • Các bị cáo ghi đề 04 lần với số tiền thấp nhất là 5.295.000 đồng, cao nhất là 11.670.000 đồng và không vi phạm tình tiết định khung tăng nặng hình phạt khác nên bị đưa ra xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
  • [4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với các bị cáo:
  • Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 02 lần trở lên nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền ghi đề khắc phục hậu quả nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội xâm phạm khách thể là trật tự công cộng, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, với động cơ vụ lợi. Bên cạnh đó, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, đã nộp lại toàn bộ số tiền đánh bạc để khắc phục hậu quả, đã chứng minh được khả năng thi hành án nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước và pháp luật.
  • [5] Về hình phạt bổ sung: Khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Do đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên Hội đồng xét xử không phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.
  • [6] Về xử lý vật chứng:
    • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 là điện thoại của bị cáo Nguyễn Phục Q dùng vào việc đánh bạc nên tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.
    • - Đối với số tiền các bị cáo đã nộp để khắc phục hậu quả thì sung vào ngân sách nhà nước.
  • [7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
  • [8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Phục Q, Trần Thị L1Nguyễn Thị Ngọc Y phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Về hình phạt:
    • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Phục Q: Phạt tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.
    • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
    • Xử phạt bị cáo Trần Thị L1: Phạt tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.
    • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Y: Phạt tiền 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.
  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
    • - Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 promax màu xanh (đã qua sử dụng).
    • (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 222/QĐ-VKSTPTĐ ngày 05/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
    • - Sung vào ngân sách nhà nước số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng do bị cáo Trần Thị L1 nộp khắc phục hậu quả theo Biên lai thu số 0025911 ngày 28/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức; số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng do bị cáo Nguyễn Phục Q nộp khắc phục hậu quả theo Biên lai thu số 0025908 ngày 28/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức; số tiền 7.742.000 (bảy triệu, bảy trăm bốn mươi hai nghìn) đồng do bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Y nộp khắc phục hậu quả theo Biên lai thu số 00025910 ngày 28/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
  4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
    • - Buộc các bị cáo Nguyễn Phục Q, Trần Thị L1Nguyễn Thị Ngọc Y, mỗi bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
    • - Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
    • Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 150/2024/HS-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về đánh bạc (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 150/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Tội phạm hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Phục Q phạm tội "Đánh bạc"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger