|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 150/2024/HS-ST
Ngày 14-8-2024
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Giàng A Tằng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bạc Thị Hồng và bà Lê Thị Thanh Thùy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đức Thái, Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 148/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 152/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Thị D, tên gọi khác: Không có tên gọi khác.
Sinh ngày 07 tháng 12 năm 1976, tại huyện T, tỉnh Điện Biên.
Nơi cư trú: Bản K, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa (học vấn): Chưa đi học; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn S (đã chết) và bà Lò Thị S1 (đã chết); bị cáo chưa có chồng, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị Tòa án đưa ra xét xử, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/5/2024 cho đến nay, có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lường Thị T – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ, có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Lò Văn P, sinh năm 1987; địa chỉ: Bản M, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên, có mặt.
- - Anh Quàng Văn C, sinh năm 1994; địa chỉ: Bản C, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên, có mặt.
* Người có nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Bạc Cầm D1, sinh năm 1992; địa chỉ: Bản P, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên, có mặt.
- - Anh Lò Văn S2, sinh năm 1988; địa chỉ: Bản K, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên, có mặt.
- - Chị Quàng Thị Y, sinh năm 1991; địa chỉ: Bản C, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên, có mặt.
* Người làm chứng:
- - Anh Lò Văn P1, sinh năm 1997; địa chỉ: Bản C, xã A, huyện M, tỉnh Điện Biên, có mặt.
- - Anh Lường Văn T1, sinh năm 1978; địa chỉ: Bản K, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên, có mặt.
* Người phiên dịch cho bị cáo: Ông Lò Văn G, sinh năm 1989; địa chỉ: Bản S, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 12 tháng 4 năm 2024, Tổ công tác Ủy ban nhân dân xã M, huyện T gồm: Anh Bạc Cầm D1 - Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, anh Lò Văn P - công chức địa chính xã, anh Quàng Văn C - Bí thư Đoàn thanh niên xã, anh Lò Văn S2 - cán bộ UBND xã và chị Quàng Thị Y - cán bộ UBND xã thực hiện nhiệm vụ dọn dẹp hành lang và lòng đường giao thông liên xã tại địa phận bản K, xã M theo Kế hoạch số 74/KH-UBND ngày 10/4/2024 của UBND xã M về việc “Tuyên truyền, vận động dẹp hành lang, chiếm vào đường an toàn giao thông trên địa bàn xã”. Tổ công tác còn có sự tham gia của anh Lò Văn P1 - cán bộ Công an xã và anh Lường Văn T1 - Trưởng bản K, xã M. Khi Tổ công tác dọn dẹp đường đến khu vực phía trước cổng nhà bị cáo D phát hiện tại mép đường bên trái theo hướng đi từ UBND xã M đi huyện T giáp với tường bao của bị cáo D có 14 hòn đá, trong đó 02 hòn đá được đặt lên trên phần lòng đường bê tông ở bên mép đường sát với rãnh thoát nước, còn 12 hòn đá được đặt vào bên trong rãnh thoát nước giữa phần đường bê tông và tường bao của bị cáo D. Thấy vậy, Tổ công tác đã mời bị cáo Lò Thị D từ trên sàn nhà xuống đường nơi có các hòn đá lấn vào lòng đường để vận động bị cáo D tự gỡ bỏ, dọn dẹp toàn bộ những hòn đá nêu trên để các phương tiện tham gia giao thông đi lại an toàn nhưng bị cáo D không chấp hành mà có hành vi đứng, ngồi lên những hòn đá và có lời nói thô tục, xúc phạm, đe dọa Tổ công tác. Anh Bạc Cầm D1 đã chỉ đạo Tổ công tác tiến hành dọn dẹp 14 hòn đá của bị cáo D. Khi Tổ công tác vào dọn những hòn đá trên thì bị cáo
D đã nhặt 02 hòn đá ở ven đường, nơi những hòn đá bị cáo D đã đặt vào trước đó (tay trái cầm 01 hòn đá màu nâu xám, kích thước chiều rộng 10cm, chiều dài 15cm; tay phải cầm 01 hòn đá màu nâu vàng, kích thước chiều rộng 10cm, chiều dài 17cm) nhằm ngăn cản Tổ công tác, không cho Tổ công tác thực hiện việc gỡ bỏ những hòn đá ra khỏi vị trí bị cáo D đặt vào trước đó. Khi anh Lò Văn P và anh Q Văn C đi vào nhấc 02 hòn đá trực tiếp lấn chiếm vào phần lòng đường giao thông (trong đó: 01 hòn đá, màu nâu vàng, dài 36cm, rộng 25cm, dày 21cm; 01 hòn đá, màu nâu vàng, dài 47cm, rộng 37cm, dày 19cm) thì bị cáo Lò Thị D dùng hai hòn đá đang cầm trên hai tay đẩy vào vùng lưng, vùng sườn phải, ngực trái, vai phải của anh P làm anh P bị thương và làm chiếc áo sơ mi anh P đang mặc trên người bị rách ở vị trí lưng áo bên tay phải, lúc này anh P vẫn tiếp tục dùng tay để bê những hòn đá ra khỏi lòng đường thì bị cáo Lò Thị D dùng hòn đá đang cầm trên tay phải đập theo hướng từ trên xuống dưới trúng vào cổ tay phải của anh P gây thương tích 1%. Mọi người vào can ngăn thì bị cáo Lò Thị D đã vứt hai hòn đá đang cầm trên hai tay xuống đất rồi tiếp tục dùng tay phải đánh vào vùng lưng của Quàng Văn C nhưng không gây thương tích. Sau đó bị cáo Lò Thị D chạy lên sàn nhà của bị cáo đứng dùng nhiều hòn đá có kích thước to, nhỏ khác nhau và các chai thủy tinh ném về hướng Tổ công tác nhưng không trúng ai. Do bị cáo Lò Thị D cản trở việc thực hiện nhiệm vụ nên Tổ công tác trở về trụ sở UBND xã M, anh P đã tiến hành trình báo với Công an xã M về sự việc và đề nghị xử lý bị cáo Lò Thị D theo quy định của pháp luật.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể số 71/2024/KLTTCT-TTPY ngày 26/4/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ đối với Lò Văn P, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho Lò Văn P tại thời điểm giám định là 1% (một phần trăm).
Tại Kết luận định giá tài sản số 23a/KL-HĐĐGTS ngày 25/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện T kết luận: Giá trị tài sản là 01 (một) chiếc áo sơ mi, màu xanh nhạt, có đường kẻ ô vuông màu trắng đã qua sử dụng bị rách, Hội đồng định giá tài sản không xác định được giá trị do không đủ thông tin của tài sản bị thiệt hại.
Tại phiên tòa bị cáo Lò Thị D một lần nữa khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lò Văn P, anh Q Văn Công không yêu cầu bị cáo Lò Thị D bồi thường gì.
Cáo trạng số: 107/CT-VKSTG ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố bị cáo Lò Thị D về tội: Chống người thi hành công vụ theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa luận tội của Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lò Thị D và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 330, các điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Tuyên bố bị cáo Lò Thị D phạm tội “Chống người thi hành công vụ”, xử phạt bị cáo Lò Thị D từ 09 (Chín) tháng đến 01 (Một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm.
Về trách nhiệm dân sự: Không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Trả lại cho anh Lò Văn P 01 áo sơ mi màu xanh nhạt, có đường kẻ ô vuông màu trắng đã qua sử dụng, áo có vết rách dài 17cm tại vùng lưng áo và vết rách dài 1,5cm vùng cánh tay phải áo.
- - Tịch thu tiêu hủy, gồm 01 hòn đá màu nâu xám, có kích thước chiều rộng 10cm, chiều dài 15cm; 01 hòn đá màu nâu vàng, có kích thước chiều rộng 10cm, chiều dài 17cm; 01 chai thủy tinh hình trụ, nhãn hiệu Sting, còn nguyên vẹn, chiều cao 22cm, đường kính miệng chai 2,5cm, đường kính đáy chai 5,5cm; 01 chai thủy tinh hình trụ, nhãn hiệu Sting, bị vỡ, chiều cao 16,5cm, đường kính miệng chai 3,5cm, đường kính đáy chai 5,5cm; 01 hòn đá, được đánh số 1, có kích thước chiều dài 23,5cm, chiều rộng 18,5cm; 01 hòn đá, được đánh số 2, có kích thước chiều dài 25,5cm, chiều rộng 19,5cm; 01 hòn đá, được đánh số 3, có kích thước chiều dài 21cm, chiều rộng 11cm; 01 hòn đá, được đánh số 4, có kích thước chiều dài 11cm, chiều rộng 10cm; 01 hòn đá, được đánh số 5, có kích thước chiều dài 14,5cm, chiều rộng 11cm; 01 hòn đá, được đánh số 6, có kích thước chiều dài 15cm, chiều rộng 10cm; 01 hòn đá, được đánh số 7, có kích thước chiều dài 9,5cm, chiều rộng 07cm; 01 hòn đá, được đánh số 8, có kích thước chiều dài 11,5cm, chiều rộng 7,5cm; 01 hòn đá, được đánh số 9, có kích thước chiều dài 9,5cm, chiều rộng 06cm; 01 hòn đá, được đánh số 10, có kích thước chiều dài 7cm, chiều rộng 5cm; 01 hòn đá, được đánh số 11, có kích thước chiều dài 8,5cm, chiều rộng 6,5cm; 01 hòn đá, được đánh số 12, có kích thước chiều dài 6,5cm, chiều rộng 5,5cm; 01 hòn đá, được đánh số 13, có kích thước chiều dài 7cm, chiều rộng 5cm; 01 hòn đá, được đánh số 14, có kích thước chiều dài 5,5cm, chiều rộng 3,5cm; 01 hòn đá, màu nâu vàng, dài 36,0cm, rộng 25,0cm, dày 21,0cm; 01 hòn đá, màu nâu vàng, dài 47,0cm, rộng 37,0cm, dày 19,0cm; 01 hòn đá, màu nâu vàng, được đánh số 1A, dài 25,0cm, rộng 12,0cm, cao 12,0cm; 01 hòn đá, màu nâu đỏ, được đánh số 1B, dài 23,0cm, rộng 16,0cm, cao 17,0cm; 01 hòn đá, màu nâu vàng, được đánh số 1C, dài 39,0cm, rộng 19,0cm, cao 19,0cm; 01 hòn đá, màu nâu vàng, được đánh số 1D, dài 21,0cm, rộng 18,0cm, cao 16,0cm; 01 hòn đá, màu nâu vàng, được đánh số 1Đ, dài 25,0cm, rộng 12,0cm, cao 12,0cm; 01 hòn đá, màu nâu vàng, được đánh số 1E, dài 32,0cm, rộng 20,0cm, cao 12,0cm; 01 hòn đá, màu nâu đỏ, được đánh số 1F, dài 47,0cm, rộng 36,0cm, cao 20,0cm; 01 hòn đá, màu nâu vàng, được đánh số 1G, dài 55,0cm, rộng 33,0cm, cao 26,0cm; 01 hòn đá, màu nâu vàng, được đánh số 1H, dài 32,0cm, rộng 20,0cm, cao 19,0cm; 01 hòn đá, màu nâu vàng, được đánh số 1I, dài 42,0cm, rộng 26,0cm, cao 20,0cm.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Thị D.
Lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với Cáo trạng truy tố về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo là đúng người, đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa bị cáo đã có lời khai thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là người dân tộc thiểu số không được đi học sống ở xã có điều kiện, kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức về xã hội và pháp luật hạn chế. Đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm đ khoản 1 Điều 3 của Bộ luật Hình sự và cân nhắc về điều kiện, hoàn cảnh, áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, miễn án phí hình sự cho bị cáo.
Bị cáo nhất trí với Cáo trạng truy tố, không có ý kiến bổ sung vào lời bào chữa, không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng bị cáo nói lời xin lỗi đến các thành viên của Tổ công tác và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Hồi 14 giờ 05 phút ngày 12/4/2024 tại vị trí Km10+100 đường liên xã thuộc bản Khong Tở, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên. Bị cáo Lò Thị D đã cố ý dùng lời nói thô tục, xúc phạm, đe dọa Tổ công tác; hai tay cầm hai hòn đá để xô đẩy, đánh vào tay anh Lò Văn P và dùng tay đánh vào người anh Q Văn C là cán bộ, công chức của Tổ công tác Ủy ban nhân dân xã M; nén đá, chai thuỷ tinh vào Tổ công tác làm cản trở việc thi hành công vụ của Tổ công tác Ủy ban nhân dân xã M, huyện T đang làm nhiệm vụ dọn dẹp hành lang, lòng đường giao thông liên xã tại vị trí Km10+100 bản K, xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên theo Kế hoạch số 74/KH-UBND ngày 10/4/2024 của UBND xã M. Hành vi của bị cáo phù hợp với Biên bản sự việc, Biên bản xác định hiện trường, bản ảnh hiện trường, tập tin video, biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử; lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; người có nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Với hành vi “dùng lời nói, hòn đá, tay đánh anh Lò Văn P, anh Quàng Văn C; ném đá, chai thủy tinh vào Tổ công tác là những cán bộ, công chức Ủy ban nhân dân xã M khi đang thi hành công vụ” thì bị cáo Lò Thị D đã phạm vào tội “Chống người thi hành công vụ” được quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.
Khoản 1 Điều 330 quy định của Bộ luật Hình sự:
“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến hoạt động đúng đắn, bình thường của cơ quan Nhà nước được pháp luật bảo vệ. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là tội phạm ít nghiêm trọng. Tuy nhiên bị cáo thực hiện hành vi một cách ngang nhiên, thách thức đối với người thi hành công vụ; hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trị an xã hội trên địa bàn xã M, huyện T. Vì vậy hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân: Ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa bị kết án về tội danh nào khác, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Do vậy bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo chưa thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nhưng tại phiên tòa bị cáo đã cho lời khai thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, thể hiện thái độ ăn năn, xin lỗi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người có nghĩa vụ liên quan; người làm chứng; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có thái độ ăn năn, có nơi cư trú ổn định rõ ràng, là người dân tộc không đi học nên về nhận thức pháp luật còn hạn chế. Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được chấp hành án dưới sự giám sát của chính quyền địa phương, cũng đủ giáo dục cải tạo bị cáo, vừa thể hiện sự khoan hồng nhân văn của pháp luật đối với người phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thật sự ăn năn hối cải với hành vi phạm tội mà mình đã gây ra và phù hợp với quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[4] Đề nghị của Kiểm sát viên, người bào chữa tại phiên tòa về phần hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, miễn án phí đối với bị cáo là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với bị cáo: Căn cứ khoản 4 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
[6] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng vụ án:
- - 01 áo sơ mi màu xanh nhạt, có đường kẻ ô vuông màu trắng đã qua sử dụng, bị rách tại các vị trí vùng lưng dài 17cm và vùng cánh tay phải áo dài 1,5cm, tại các vùng vai áo, cánh tay phải áo, vùng ngực áo, lưng áo có vết bẩn, tại phiên tòa anh Lò Văn P yêu cầu được trả lại áo; căn cứ điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại áo cho anh Lò Văn P.
- - 01 hòn đá màu nâu xám, có kích thước chiều rộng 10cm, chiều dài 15cm; 01 hòn đá màu nâu vàng, có kích thước chiều rộng 10cm, chiều dài 17cm; 01 chai thủy tinh hình trụ, nhãn hiệu Sting, còn nguyên vẹn, chiều cao 22cm, đường kính miệng chai 2,5cm, đường kính đáy chai 5,5cm; 01 chai thủy tinh hình trụ, nhãn hiệu Sting, bị vỡ, chiều cao 16,5cm, đường kính miệng chai 3,5cm, đường kính đáy chai 5,5cm; 01 hòn đá, được đánh số 1, có kích thước chiều dài 23,5cm, chiều rộng 18,5cm; 01 hòn đá, được đánh số 2, có kích thước chiều dài 25,5cm, chiều rộng 19,5cm; 01 hòn đá, được đánh số 3, có kích thước chiều dài 21cm, chiều rộng 11cm; 01 hòn đá, được đánh số 4, có kích thước chiều dài 11cm, chiều rộng 10cm; 01 hòn đá, được đánh số 5, có kích thước chiều dài 14,5cm, chiều rộng 11cm; 01 hòn đá, được đánh số 6, có kích thước chiều dài 15cm, chiều rộng 10cm; 01 hòn đá, được đánh số 7, có kích thước chiều dài 9,5cm, chiều rộng 07cm; 01 hòn đá, được đánh số 8, có kích thước chiều dài 11,5cm, chiều rộng 7,5cm; 01 hòn đá, được đánh số 9, có kích thước chiều dài 9,5cm, chiều rộng 06cm; 01 hòn đá, được đánh số 10, có kích thước chiều dài 7cm, chiều rộng 5cm; 01 hòn đá, được đánh số 11, có kích thước chiều dài 8,5cm, chiều rộng 6,5cm; 01 hòn đá, được đánh số 12, có kích thước chiều dài 6,5cm, chiều rộng 5,5cm; 01 hòn đá, được đánh số 13, có kích thước chiều dài 7cm, chiều rộng 5cm; 01 hòn đá, được đánh số 14, có kích thước chiều dài 5,5cm, chiều rộng 3,5cm; 01 hòn đá, màu nâu vàng, dài 36,0cm, rộng 25,0cm, dày 21,0cm; 01 hòn đá, màu nâu vàng, dài 47,0cm, rộng 37,0cm, dày 19,0cm; 01 hòn đá, màu nâu vàng, được đánh số 1A, dài 25,0cm, rộng 12,0cm, cao 12,0cm; 01 hòn đá, màu nâu đỏ, được đánh số 1B, dài 23,0cm, rộng 16,0cm, cao 17,0cm; 01 hòn đá, màu nâu vàng, được đánh số 1C, dài 39,0cm, rộng 19,0cm, cao 19,0cm; 01 hòn đá, màu nâu vàng, được đánh số 1D, dài 21,0cm, rộng 18,0cm, cao 16,0cm; 01 hòn đá, màu nâu vàng, được đánh số 1Đ, dài 25,0cm, rộng 12,0cm, cao 12,0cm; 01 hòn đá, màu nâu vàng, được đánh số 1E, dài 32,0cm, rộng 20,0cm, cao 12,0cm; 01 hòn đá, màu nâu đỏ, được đánh số 1F, dài 47,0cm, rộng 36,0cm, cao 20,0cm; 01 hòn đá, màu nâu vàng, được đánh số 1G, dài 55,0cm, rộng 33,0cm, cao 26,0cm; 01 hòn đá, màu nâu vàng, được đánh số 1H, dài 32,0cm, rộng 20,0cm, cao 19,0cm; 01 hòn đá, màu nâu vàng, được đánh số 1I, dài 42,0cm, rộng 26,0cm, cao 20,0cm. Tất cả các hòn đá, áo sơ mi màu xanh nhạt, chai thủy tinh hình trụ trên là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội và vật không có giá trị sử dụng. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lò Thị D được miễn nộp toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
[10] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Thị D phạm tội Chống người thi hành công vụ.
2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 330, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lò Thị D 10 (mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 08 (tám) tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lò Thị D cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên và gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Áp dụng khoản 3 Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Lò Thị D nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
3. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, b khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- * Tịch thu tiêu hủy: 01 hòn đá màu nâu xám, có kích thước chiều rộng 10cm, chiều dài 15cm; 01 hòn đá màu nâu vàng, có kích thước chiều rộng 10cm, chiều dài 17cm; 01 chai thủy tinh hình trụ, nhãn hiệu Sting, còn nguyên vẹn, chiều cao 22cm, đường kính miệng chai 2,5cm, đường kính đáy chai 5,5cm; 01 chai thủy tinh hình trụ, nhãn hiệu Sting, bị vỡ, chiều cao 16,5cm, đường kính miệng chai 3,5cm, đường kính đáy chai 5,5cm; 01 hòn đá, được đánh số 1, có kích thước chiều dài 23,5cm, chiều rộng 18,5cm; 01 hòn đá, được đánh số 2, có kích thước chiều dài 25,5cm, chiều rộng 19,5cm; 01 hòn đá, được đánh số 3, có kích thước chiều dài 21cm, chiều rộng 11cm; 01 hòn đá, được đánh số 4, có kích thước chiều dài 11cm, chiều rộng 10cm; 01 hòn đá, được đánh số 5, có kích thước chiều dài 14,5cm, chiều rộng 11cm; 01 hòn đá, được đánh số 6, có kích thước chiều dài 15cm, chiều rộng 10cm; 01 hòn đá, được đánh số 7, có kích thước chiều dài 9,5cm, chiều rộng 07cm; 01 hòn đá, được đánh số 8, có kích thước chiều dài 11,5cm, chiều rộng 7,5cm; 01 hòn đá, được đánh số 9, có kích thước chiều dài 9,5cm, chiều rộng 06cm; 01 hòn đá, được đánh số 10, có kích thước chiều dài 7cm, chiều rộng 5cm; 01 hòn đá, được đánh số 11, có kích thước chiều dài 8,5cm, chiều rộng 6,5cm; 01 hòn đá, được đánh số 12, có kích thước chiều dài 6,5cm, chiều rộng 5,5cm; 01 hòn đá, được đánh số 13, có kích thước chiều dài 7cm, chiều rộng 5cm; 01 hòn đá, được đánh số 14, có kích thước chiều dài 5,5cm, chiều rộng 3,5cm; 01 hòn đá, màu nâu vàng, dài 36,0cm, rộng 25,0cm, dày 21,0cm; 01 hòn đá, màu nâu vàng, dài 47,0cm, rộng 37,0cm, dày 19,0cm; 01 hòn đá, màu nâu vàng, được đánh số 1A, dài 25,0cm, rộng 12,0cm, cao 12,0cm; 01 hòn đá, màu nâu đỏ, được đánh số 1B, dài 23,0cm, rộng 16,0cm, cao 17,0cm; 01 hòn đá, màu nâu vàng, được đánh số 1C, dài 39,0cm, rộng 19,0cm, cao 19,0cm; 01 hòn đá, màu nâu vàng, được đánh số 1D, dài 21,0cm, rộng 18,0cm, cao 16,0cm; 01 hòn đá, màu nâu vàng, được đánh số 1Đ, dài 25,0cm, rộng 12,0cm, cao 12,0cm; 01 hòn đá, màu nâu vàng, được đánh số 1E, dài 32,0cm, rộng 20,0cm, cao 12,0cm; 01 hòn đá, màu nâu đỏ, được đánh số 1F, dài 47,0cm, rộng 36,0cm, cao 20,0cm; 01 hòn đá, màu nâu vàng, được đánh số 1G, dài 55,0cm, rộng 33,0cm, cao 26,0cm; 01 hòn đá, màu nâu vàng, được đánh số 1H, dài 32,0cm, rộng 20,0cm, cao 19,0cm; 01 hòn đá, màu nâu vàng, được đánh số 1I, dài 42,0cm, rộng 26,0cm, cao 20,0cm.
- * Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lò Văn P: 01 áo sơ mi màu xanh nhạt, có đường kẻ ô vuông màu trắng đã qua sử dụng, bị rách tại các vị trí vùng lưng dài 17cm và vùng cánh tay phải áo dài 1,5cm, tại các vùng vai áo, cánh tay phải áo, vùng ngực áo, lưng áo có vết bẩn.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên).
4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Bị cáo Lò Thị D được miễn nộp toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo Lò Thị D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 14/8/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lò Văn P, anh Q Văn Công có quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 14/8/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giàng A Tằng |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Bạc Thị Hồng |
Lê Thị Thanh Thùy |
Giàng A Tằng |
Bản án số 150/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự về tội chống người thi hành công vụ
- Số bản án: 150/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Chống người thi hành công vụ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lò Thị D- phạm tội chống người thi hành công vụ
