Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 150/2024/HSST

Ngày: 13/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Đình Văn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thủy

Bà Nguyễn Thị Tiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa:

Ông Hoàng Tuấn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 80/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXX-TA ngày 02 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 44/2024/HSST-QĐHPT ngày 14/5/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị C; Tên gọi khác: Không; giới tính: Nữ; sinh năm 1994; HKTT: Thôn D, xã Đ, huyện C, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nguyễn Văn H, Mẹ đẻ: Nguyễn Thị C1; Chồng: Nguyễn Văn D, sinh năm 1991; Con: Có 02 con (lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2020); Tiền án, tiền sự: Chưa. D1 chỉ bản số 21 lập ngày 05/1/2024 tại Công an quận H, thành phố Hà Nội.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Viết Đ – Công ty L; địa chỉ: Đường D, tổ dân phố N, thị trấn C, huyện C, thành phố Hà Nội. có mặt

Bị hại:

  1. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1989; trú tại: thôn P, xã H, huyện C, thành phố Hà Nội. vắng mặt
  2. Anh Trịnh Duy Đ1, sinh năm 1997; trú tại: thôn C, xã N, huyện C, thành phố Hà Nội. có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị G (mẹ đẻ anh Trịnh Duy Đ1); trú tại: thôn C, xã N, huyện C, thành phố Hà Nội. có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 10 phút, ngày 15/12/2021, Nguyễn Thị C sinh năm 1994; trú tại thôn D, xã Đ, huyện C, TP. có giấy phép lái xe mô tô hạng A1, nồng độ cồn trong máu 0,000mg/L, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29P1-399.32 chở sau chị Nguyễn Thị T sinh năm 1989; trú tại thôn P, xã H, huyện C, TP. đi trên đường Q chiều Hòa Bình hướng đi quận H. Khi đi đến đoạn Km18+400 Quốc lộ F thuộc tổ dân phố P, phường B, quận H, TP .. Lúc này trời tối, thời tiết không mưa, ánh sáng cao áp đèn đường chiếu sáng, lưu lượng phương tiện tham gia giao thông vắng, đường khô ráo, mặt đường trải nhựa áp phan tương đối bằng phẳng. Nguyễn Thị C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29P1-399.32 đi với tốc độ khoảng 40km/h, thì xảy ra va chạm giữa phần đầu bên phải xe mô tô do C điều khiển với phần đầu bên phải xe mô tô biển kiểm soát 33P8-8084 do anh Trịnh Duy Đ1 sinh năm 1997; Trú tại C, xã N, huyện C, TP. (không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, nồng độ cồn trong máu 95,69mg/dl) điều khiển đi trên đường Q, chiều từ quận H đi TP .

Hậu quả: Nguyễn Thị C bị gãy hở độ I 1/3 giữa 02 xương cẳng chân phải, chấn thương hàm mặt, gãy xương gò má cung tiếp, tổn khuyết thành trong mắt trái, vết thương phần mềm mi trên, trán trái điều trị tại bệnh viện Q đến ngày 05/01/2022 thì ra viện; Chị Nguyễn Thị T bị chấn động não, chấn thương hàm mặt: Gãy xương trán, cung tiếp gò má, thành ngoài ổ mắt và cánh lớn xương bướm trái. Vỡ xương đá bên phải, tụ dịch xoang chum bên phải, tổn thương dây thần kinh mắt trái, điều trị tại bệnh viện Đ2 và bệnh viện Q đến ngày 11/01/2022 thì ra viện; Anh Trịnh Duy Đ1 bị đa chấn thương: Chấn thương sọ não, xuất huyết dưới nhện liềm đại não, Glasgow 8 điểm, chấn thương hàm mặt: Gãy xương hàm trên Lefort II, III, cung tiếp, NOE, vết thương hàm mặt, vỡ xương sang hốc mắt trái, điều trị bệnh viện V đến 24/12/2021 thì ra viện.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường vụ tai nạn giao thông là đường Quốc lộ 6 đoạn Km18+400 thuộc địa phận tổ dân phố P, phường B, quận H, TP .. Đường được trải nhựa át phan tương đối bằng phẳng, thẳng, không có chướng ngại vật, không có lối rẽ đường giao cắt. Trên mặt đường có vạch kẻ sơn vàng đứt đoạn chia phần đường xe chạy, trời tối, ánh sáng cao áp đèn đường. Mặt đường rộng 8,5 mét được chia làm hai chiều đường, chiều Hòa Bình đi H rộng 3.5 mét, chiều H đi Hòa Bình rộng 5 mét. Lề đường bên phải hướng Hòa Bình đi H rộng 3,5 m, lề đường bên trái hướng H đi Hòa Bình rộng 2,9m.

Lấy cột đèn cao áp ký hiệu BG/41 được dựng cố định bên trong lề đường bên phải hướng Hòa Bình đi H làm mốc định vị.

Quan sát hiện trường theo chiều từ Hòa Bình hướng đi quận H, các số đo được đo vào mép đường bên trái chiều đường này làm mép đường chuẩn.

Vị trí các phương tiện liên quan, dấu vết tại hiện trường:

  • (1) Vị trí xe mô tô BKS 29P1-399.32 được dựng đứng trên mặt đường, đầu xe hướng mép đường chuẩn chếch chéo phía H, đuôi xe hướng chếch chéo hướng Hòa Bình đi H. Đo từ tâm trục bánh trước xe (1) vào mép đường chuẩn là 4,2 mét, đo từ tâm trục bánh sau xe (1) vào mép đường là 4,9 mét.
  • (2) Phía dưới gầm xe mô tô (1) có vết cày trượt trên mặt đường, chưa xác định chiều hướng dài 0,1 mét, tâm vết (2) cách tâm trục bánh trước xe (1) là 0,3 mét, điểm gần nhất cách mép đường chuẩn 4,7 mét, điểm xa nhất cách mép đường chuẩn 4,8 mét.
  • (3) Vị trí xe mô tô BKS 33P8-8084 đổ nghiêng trái trên mặt đường, đầu xe hướng mép đường bên phải hướng Hòa Bình đi H chếch chéo hướng Hòa Bình, đuôi xe hướng mép đường chuẩn chếch chéo quận H. Đo từ tâm trục bánh trước đến mép đường chuẩn là 5.2 mét, đo từ tâm trục bánh sau xe đến mép đường chuẩn là 4,2 mét, đo từ tâm trục bánh trước xe (3) đến tâm trục bánh trước xe (1) là 1,6 mét.
  • (4) Vết cày trượt trên mặt đường hướng Hòa Bình đi H dài 0,45 mét. Đầu vết cách mép đường chuẩn 4,6 mét, cuối vết là vị trí đầu bàn để chân trước bên trái xe (3) đang ở vị trí tỳ xuống mặt đường.
  • (5) Vị trí vùng chất màu nâu đỏ (dạng máu) diện 1,2x 0,9 mét. Đo từ tâm vết vào tâm trục bánh trước xe (1) là 0,68 mét, đo vào mép đường chuẩn là 2,9 mét.
  • (6) Vị trí vùng chất màu nâu đỏ (dạng máu) diện 0,57x 0,2 mét, đo từ tâm vết vào mép đường chuẩn là 6 mét.
  • (7) Vùng nhựa vỡ, giày, ủng, tỏi, hành tươi, mũ bảo hiểm trong diện 5,4x 3,5 mét. Đo từ tâm vết vào mép đường chuẩn là 4 mét, đo vuông góc với trục bánh trước xe (3) là 0,8 mét. (BL 28-36)

* Kết quả giám định thương tích, cơ chế dấu vết và định giá tài sản

Ngày 07/2/2022, Phòng C2 đã ra các Quyết định trưng cầu giám định số 40, 41 và 42 trưng cầu Viện khoa học hình sự Bộ C3 giám định pháp y thương tích của anh Trịnh Duy Đ1, chị Nguyễn Thị C và chị Nguyễn Thị T liên quan đến vụ tai nạn giao thông nêu trên:

  • Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số 818/C09-TT1 ngày 10/02/2022 xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Nguyễn Thị T tại thời điểm giảm định là 68% (sáu mươi tám phần trăm).
  • Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số 819/C09-TT1 ngày 10/02/2022 xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Trịnh Duy Đ1 tại thời điểm giảm định là 66% (sáu mươi sáu phần trăm).
  • Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số 820/C09-TT1 ngày 11/02/2022 xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Nguyễn Thị C tại thời điểm giám định là 62% (sáu mươi hai phần trăm).

Ngày 10/3/2022, cơ quan CSĐT Công an quận H ra Quyết định trưng cầu giám định số 163 xác định cơ chế hình thành dấu vết hai phương tiện trong vụ tai nạn giao thông. Tại bản kết luận giám định số 1476/KL-KTHS ngày 12/4/2022 của V1 Bộ C3, kết luận:

“1. Dấu vết trượt xước ở mặt ngoài phía trước ốc kim loại đầu trục bánh trước bên phải xe mô tô biển số 29P1-399.32 có chiều từ trước về sau (ảnh 7 trong bản ảnh giám định), phù hợp với trượt xước, rách, thủng cao su ở má bên phải lốp bánh trước; dấu vết hằn, biến dạng kim loại ở vành bên phải lốp bánh trước và dấu vết trượt xước ở giảm xóc trước bên phải xe mô tô biển số 33P8-8084 (ảnh 8, 9 trong bản ảnh giám định). Các dấu vết va chạm ở xe mô tô biển số 33P8-8084 tại má và vành bên phải lốp bánh trước có chiều từ mặt lăn vào vành và từ vành vào tâm trục, tại giảm xóc trước bên phải có chiều từ trước về sau.

- Dấu vết trượt xước kim loại ở mặt trước giảm xóc trước bên phải xe mô tô biển số 29P1-399.32 có chiều từ trước về sau (ảnh 10 trong bản ảnh giám định), phù hợp với dấu vết trượt xước kim loại ở mặt trước giảm xóc trước bên phải xe mô tô biển số 33P8-8084 (ảnh 11 trong bản ảnh giám định). Dấu vết va chạm ở xe mô tô biển số 33P8-8084 tại vị trí này có chiều từ trước về sau.

- Dấu vết trượt xước, biến dạng kim loại ở dưới chi tiết kim loại bắt giữ mặt nạ đầu xe mô tô biển số 29P1-399.32 có chiều từ trước về sau (ảnh 12 trong bản ảnh giám định), phù hợp với dấu vết trượt xước ở ốc kim loại phía trên bên phải chi tiết kim loại bắt giữ mặt nạ đầu xe mô tô biển số 33P8-8084 (ảnh 13 trong bản ảnh giám định). Dấu vết va chạm ở đầu xe mô tô biển số 33P8-8084 tại vị trí này có chiều từ trước về sau.

2. Va chạm đầu tiên giữa xe mô tô biển số 29P1-399.32 và xe mô tô biển số 33P8-8084: Phía trước ốc kim loại đầu trục trước bên phải xe mô tô biển số 29P1-399.32 và má bên phải lốp bánh trước xe mô tô biển số 33P8-8084.

3. Căn cứ vào hồ sơ gửi giám định: Vị trí va chạm giữa xe mô tô biển số 29P1-399.32 và xe mô tô biển số 33P8-8084 nằm ở phần đường bên trái Quốc lộ F theo chiều Hòa Bình đi H.”

Ngày 5/9/2022, Cơ quan CSĐT Công an quận H ra Công văn số 2905/CQĐT(ĐTTH) về việc giải thích nội dung kết luận giám định số 1476/KL-KTHS ngày 12/4/2022 của V1 - Bộ C3. Tại Công văn số 2675/C09-P3, ngày 29/9/2022 của V1- Bộ C3 trả lời như sau: “+ Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe mô tô BKS 29P1-399.32 và xe mô tô BKS 33P8-8084 nằm ở phần đường bên trái Quốc lộ F theo chiều Hòa Bình đi H.

+ Vị trí va chạm giữa xe mô tô BKS 29P1-399.32 và xe mô tô BKS 33P8-8084 nằm ở phần đường bên trái Quốc lộ F theo chiều Hòa Bình đi H được phân cách với phần đường bên phải Quốc lộ F theo chiều Hòa Bình đi H bởi vạch sơn vàng đứt đoạn.” (BL 65).

Tại bản Cáo trạng số 69/ CT-VKS-HĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Thị C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm e khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thị C từ 33 đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.
  • Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • Về bồi thường dân sự: chị Nguyễn Thị T và anh Trịnh Duy Đ1 không có yêu cầu đề nghị gì về phần đền bù dân sự nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
  • Xử lý vật chứng: trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, BKS 33P8-8084 cho bà Trần Thị G. Trả lại 01(một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, BKS 29P1-399.32 cho Nguyễn Thị C.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và mong được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa cho bị cáo: Nhất trí về tội danh, khung khoản như truy tố của Viện kiểm sát và đề nghị hội đồng xét xử xem xét thêm yếu tố khách quan tại thời điểm xảy ra tai nạn và đặc thù phần đường của bị cáo C đi chỉ có chiều rộng 3,5 m còn phần đường từ H đi Hòa Bình lại rộng 5 m. Trước thời điểm mở phiên tòa bị cáo cũng có đơn tha thiết xin được hưởng hình phạt nhẹ, cải tạo ngoài xã hội và cung cấp các tài liệu về bố đẻ tham gia quân đội được khen thưởng. Đề nghị hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ răn đe, trừng phạt bị cáo.

Bị hại anh Trịnh Duy Đ1 vẫn giữ nguyên lời khai không yêu cầu bị cáo bồi thường và đề nghị hội đồng xét xử xem xét miễn hoặc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử thấy quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung vụ án: Khoảng 01 giờ 10 phút, ngày 15/12/2021, Nguyễn Thị C (có giấy có giấy phép lái xe mô tô hạng A1, nồng độ cồn trong máu 0,000mg/L) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29P-399.32 chở sau chị Nguyễn Thị T đi trên đường Q chiều Hòa Bình hướng đi quận H. Khi đi đến đoạn Km18+400 Quốc lộ F thuộc tổ dân phố P, phường B, quận H, TP Hà Nội. Do không chú ý quan sát, không đi về bên phải theo chiều đi của mình, không đi đúng làn đường phần đường nên C đã điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 29P1-399.32 đi lấn sang phần đường ngược chiều (chiều từ quận H đi Hòa Bình) dẫn đến phần đầu bên phải xe mô tô biển kiểm soát 29P1-399.32 do C điều khiển va chạm vào phần đầu bên phải xe mô tô biển kiểm soát 33P8-8084 do anh Trịnh Duy Đ1 điều khiển đang đi ngược chiều. Hậu quả: Anh Trịnh Duy Đ1 bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể 66% và chị Nguyễn Thị T với tỷ lệ tổn thương cơ thể 68% (tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 134%). Thiệt hại về tài sản 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, BKS 33P8-8084 là 2.000.000 đồng; 01(một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, BKS 29P1-399.32 là 2.000.000 đồng.

Hành vi của Nguyễn Thị C đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm e khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại về sức khỏe, tài sản của anh Trịnh Duy Đ1, chị Nguyễn Thị T. Do đó cần áp dụng hình phạt tương xứng thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, nhằm cải tạo, giáo dục và đảm bảo răn đe, phòng ngừa chung.

Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt thể hiện việc bị cáo không có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội; bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bản thân bị cáo cũng bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ là 62%; sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo đã chi trả toàn bộ chi phí điều trị và đến nay vẫn chăm nuôi đối với mẹ con chị Nguyễn Thị T; các bị hại đều có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ, miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhận thức được hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; việc cách ly bị cáo khỏi xã hội là không cần thiết nên có thể cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự cũng đủ cải tạo giáo dục bị cáo và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[3] Đối với anh Trịnh Duy Đ1 không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, tự ý lấy xe mô tô BKS 33P8-8084 từ nhà điều khiển xe đi trên đường Q, chiều quận H hướng đi Hòa Bình, trong người có nồng độ Ethanol trong máu 95,69mg/dl là lỗi vi phạm hành chính đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại chị Nguyễn Thị T và anh Trịnh Duy Đ1 không có yêu cầu gì về phần đền bù dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về vật chứng: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ, BKS 33P8-8084 là tài sản của bà Trần Thị G; 01(một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, BKS 29P1-399.32 là tài sản Nguyễn Thị C. Do đó, trả lại cho bà Trần Thị G và Nguyễn Thị C.

[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Thị C 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã xã Đ, huyện C, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại chị Nguyễn Thị T và anh Trịnh Duy Đ1 không có yêu cầu gì về phần đền bù dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự:
    • Trả lại bà Trần Thị G: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đỏ, biển kiểm soát: 33P8-8084, số khung: RLHHC12088Y020653, số máy: HC12E-0040684. Hiện trạng xe cũ đã qua sử dụng bị hư hỏng dập vỡ toàn bộ phần đầu xe, cánh yếm chắn gió hai bên, vành, lan hoa bánh trước bị cong vênh, lốp xịt hơi.
    • Trả lại Nguyễn Thị C 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, biển kiểm soát: 29P1-399.32. Số khung: RLHHC1212DY385543, số máy: HC12E-5385724. Hiện trạng xe cũ đã qua sử dụng bị hư hỏng dập vỡ toàn bộ phần đầu xe, cánh yếm chắn gió hai bên, vành, lan hoa bánh trước bị cong vênh, lốp xịt hơi.

    (Vật chứng đã được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/6/2024)

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 về án phí, lệ phí toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Thị C phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Hà Đông;
  • - THA quận Hà Đông;
  • - CA quận Hà Đông;
  • - Bị cáo; Bị hại; Người lq;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Đình Văn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 150/2024/HSST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 150/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ng Thị C vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger